Deep Mirror (Phần 5 – Trong sâu thẳm con người nghĩ gì?)

Các phần trước của truyện này:
1. "Mẹ đã bỏ tôi lại cho ngôi nhà"
2. Một đêm nọ soi gương trong căn phòng áp mái
3. Hai thằng bé 
4. Hình nhân trong gương 

Cuối cùng thì thằng Nhiên cũng chịu ra ngoài. Kể từ chuyện ầm ĩ đêm hôm nọ, nó rúc trong phòng suốt một tuần không dám ra ngoài. Nó thậm chí còn chui hẳn vào tủ quần áo ngồi. Lúc đầu, mẹ nó vào phòng không thấy con đâu mới tá hỏa tìm; bà mở tủ quần áo thì thấy thằng bé ngồi thu lu trong đống đồ mùa đông, hai tay che chặt tai lại. Nó lắc đầu nguây nguẩy và hò hét “Mẹ đừng nói nữa. Mẹ đừng nói gì nữa mà!”. Mà nào bà có nói gì đâu. Bà thấy con như vậy thì khóc nấc lên. Thôi rồi. Không lẽ thằng bé còn bị tâm thần? Nó nghe thấy tiếng người nói trong đầu, chứ không lại đời nào cư xử kì lạ như thế?

Cả nhà bà Nhị ủ rũ suốt tuần, định là sang tuần thư thả sẽ mang nó lên bệnh viện khám thần kinh. Thế mà tối qua, nó lại xuống nhà ăn cơm bình thường. Nó lại hiền lành như trước. Nó lễ phép mời cả nhà ăn, rồi gắp chả gắp thịt vào bát, chan canh ăn uống rất ngon lành. Nó cười cười với mọi người, thậm chí còn tỏ ra thích thú hỏi han chị nó:

“Chị có người yêu mà không đưa về nhà à?”

Chị nó đỏ chín mặt, chối đây đẩy “Người yêu nào? Thằng này vớ vẩn!”. Sợ nhất là đúng lúc ấy, cô nàng đang nghĩ đến người yêu thật.  Thằng Nhiên nhìn chằm chằm chị nó, mỉm cười hiền lành rồi lại cúi vào bát ăn “Thì thôi vậy.” Cả nhà nhìn nó ăn cơm mà im phăng phắc, không ai nói thêm tiếng nào nữa. Thằng bé lại còn lạ hơn trước, thế mới lo chứ.

 

Sáng ra, nó lại ngồi yên ngoài cửa nhà xem mẹ bán  hàng. Mẹ nó thoăn thoắt tay cắt bún bỏ vào bát, thêm vài miếng thịt, hoặc ít hành ngò, rồi hành phi, rồi lại đổ nước dùng, lại một cái bát nữa, thêm bún, một thìa gạch cua, nước dùng, bát này là phải hai lăm, bát kia ba chục, cả sáng  được… Cứ liên tục như thế, mẹ nó tay làm mà đầu nhẩm tính liên tục. Nhiên ngắm nghía mẹ thật kĩ. Mẹ nó chính ra là đẹp lắm. Khuôn mặt tuy lúc nào cũng bóng mỡ lên vì ngồi cạnh bếp lò nóng và phải làm việc vất vả, nhưng đôi mắt mẹ nó dài, mũi thon cao, miệng cười tươi lắm. Chị nó cũng giống mẹ, nhưng không đẹp bằng. Nó thì… Nó chẳng giống ai trong nhà cả. Nó giống tất cả những ai có cùng căn bệnh như nó, vậy thôi. Chỉ nhìn nó là người ta tự biết nhường ghế, nhường đường, chỉ dẫn tới chỗ nọ chỗ kia. Nhiều khi mọi người không biết rằng nó cũng có suy nghĩ riêng. Nhưng thế cũng có sao; ở xóm này người ta tốt với nó lắm.  Người ta quý mẹ nó tính tình xởi lởi và bán hàng rất dễ chịu, nên người ta quý lây sang nó. Mẹ nó rất tự hào về chị nó, còn thì mẹ bảo bọc nó hơn nhiều. Mẹ hiểu hết mọi ý thích, mọi yêu cầu nguyện vọng của nó. Mẹ luôn  xem nó như một cái bọc thủy tinh, có thể nhìn xuyên thấu bên trong luôn được, chẳng giấu giếm nổi thứ gì. Thế mà thật ra, nó lại đang giấu mẹ một chuyện: kể từ cái hôm nó ngất đi trước cổng cái biệt thự to đùng ngoài hồ, nhiều sự lạ xảy ra trong cơ thể nó lắm; đặc biệt là, giờ đây nó nghe được suy nghĩ của mọi người.

Bắt đầu từ buổi sáng sau đêm ấy, nó tỉnh dậy và thấy ong hết cả đầu. Nó tự dưng nghe thấy rất nhiều tiếng nói như từ xa vọng lại, chèn cả lên những tiếng xe cộ, tiếng người nói cười râm ran trao đổi buôn bán trong xóm thường ngày. Rồi nó nghe mẹ nó nói “Phải lên xem thằng Nhiên thế nào!”. Mà mẹ nó có ở trong phòng đâu. Một hai phút sau, mẹ nó mở cửa ra. Nó lại nghe tiếng mẹ nói “Trời ơi, sao nó xanh thế này. Không biết có sao không. Từ giờ phải cấm ra cái nhà ấy!”.  Tới trưa, bố và chị nó cũng lên thăm; thế là đầu nó như muốn nổ tung giữa cả trăm tiếng nói mà nó không biết là ai đang nói, và toàn về những vấn đề nó không hiểu: tiền điện nước tháng này, đi làm sổ hộ khẩu, đóng học phí kì mới, sinh nhật anh ấy biết tặng gì đây, công thức nọ định luật kia… Nó đau đầu quá thể! Nó mới bịt chặt tai lại và hét lên; mọi người sợ quá lại càng suy nghĩ nhiều hơn, nó lại càng đau đầu. Từ tối hôm đó, nó chui vào tủ quần áo ngủ. Trong đó chỉ có nó và suy nghĩ của nó thôi. Yên tĩnh.

Đến gần hết tuần, nó bắt đầu học cách chắt lọc những tiếng ồn trong đầu. Nó thấy khả năng mới của mình cũng không đến nỗi tệ lắm. Nó đang nằm trên giường thì một giọng nói vang lên trong đầu “A, nhà thằng Nhiên điên. Mẹ, nhà vô phước vãi. Nhưng được cái đứa con gái ngon mắt thế không biết… Có khi tìm cách chài con này…”. Nó bật dậy, nhìn xuống cửa sổ. Bên dưới, thằng Khánh nhà cuối phố vừa đậu xe vào quán mẹ nó. Thằng Nhiên kêu “Ê!”. Khánh ngẩng đầu lên và bắt gặp ánh mắt Nhiên. Thằng bé nhìn trừng trừng Khánh, cái thằng vừa nghĩ những điều xấu xa về nhà nó. Mắt nó mở to, đen lay láy, mà con ngươi còn to hơn cả bình thường. Nó cứ nhìn chòng chọc thằng Khánh như thế phải đến dăm phút. Thằng này sợ quá, lên xe vù mất. Lâu rồi không thấy quay lại ăn bún nữa.

Đấy, từ lần đó nó đâm thích cái khả năng đọc suy nghĩ của mình. Như lúc này đây, nó ngồi ngắm mẹ và biết rõ mẹ đang nghĩ gì; nó thấy mình hiểu mẹ hơn bao nhiêu. Nhưng mà chắc là nó sắp phải xa mẹ rồi. Nó chưa nói với ai về sự việc đêm hôm ấy; mà thực ra, không ai hỏi nó hết. Mọi người đều mặc nhiên cho rằng nó lên cơn gì đó, một lúc thần kinh hay sức khỏe bất ổn định mà thôi. Họ không biết rằng lúc ở ngoài hồ, nó nhìn thấy nhiều thứ lắm. Nó nhìn thấy những bóng người xám và đen lởn vởn trên nóc nhà; nó thấy cái gì đó lạ lắm cứ lơ lửng lưng chừng cửa sổ cao nhất của ngôi nhà ấy – cũng là cửa sổ duy nhất đang sáng. Lúc nó co giật, đám người xám kia ào xuống, túm lấy cổ áo nó mà giật lấy giật để. Sau đó, ánh sáng chói lòa rọi vào người nó; đám người xám vỡ tung tứ tán, rồi ráp lại thành hình người như cũ, nhưng chúng không dám lao vào nó nữa. Rồi lần đầu tiên nó nghe thấy tiếng nói vọng ra từ trong đầu:

“Hãy đi tìm hòn đá. Hãy đi tìm hòn đá. Hãy đi tìm hòn đá.”

Tiếng nói cứ lặp đi lặp lại như thế, cho tới khi ánh sáng yếu dần, rồi tắt ngấm trong bóng tối. Nó không biết là tiếng nói của ai, nhưng nó cảm thấy bị thôi thúc phải đi tìm hòn đá kia biết bao. Nó còn chẳng biết hòn đá là hòn đá gì nữa. Nhưng kệ chứ. Nó có thể đọc được suy nghĩ rồi. Nó sẽ đọc được xem ai trên đường biết hòn đá ấy ở đâu.

Đêm ấy, nó choàng tỉnh vào nửa đêm. Mảnh trăng tí hin gài lên màn nhung của bầu trời, và những vì sao thì hấp háy mắt cười với nó. Đêm xuống, nó thấy đỡ cô đơn hơn mới lạ chứ. Nó lôi ba lô ra khỏi tủ, bỏ vào ít quần áo – những bộ nó hay mặc nhất thì chắc là những bộ cần nhất rồi. Nó không biết phải soạn sao cho hợp lý nữa. Rồi nó thảy hết bánh kẹo nó có thể tìm thấy trong nhà vào ba lô. Đồ dùng vệ sinh. Cái yoyo đồ chơi nó vẫn thích chơi hàng ngày. Nó định mang khung ảnh mẹ nó, nhưng rồi cứng quá nên đành bỏ lại. Nó lật đằng sau khung ảnh và lần theo từng chữ cái:

“M…e…v…a…N…hi… Mẹ và Nhiên.”

Nó hôn lên bức ảnh rồi đặt khung ảnh trở lại bàn. Rồi nó đập vỡ lợn tiết kiệm và nhét cẩn thận nắm tiền vào một ngắn nhỏ của ba lô. Nó không giỏi đếm tiền lắm, nhưng nó thấy sơ qua rất nhiều tờ mười ngàn. Mười ngàn là mua được một cái bánh nhỏ rồi. Hai mươi ngàn hình như ăn được bát bún như mẹ vẫn bán. Tóm lại thì, chắc cũng đủ thôi. Nó không sợ bị ai lừa nữa, vì nó đọc được suy nghĩ mọi người cơ mà.

Cũng tạm đủ. Nó xốc ba lô lên vai và đi xuống nhà. Sau đêm nó trồn ra hồ ấy, bố mẹ đã thay khóa cửa để nó không trốn đi được nữa; nhưng bố mẹ không biết là nó đọc thấy hết bố mẹ nghĩ gì rồi. Thế là nó kiếm được chìa khóa trong chỗ giấu mới, rồi mở cửa và khẽ khàng lách người ra ngoài. Nó hít một hơi đầy không khí lạnh buổi ban đêm vào phổi, khoan khoái. Mảnh trăng lưỡi liềm hình như rơi võng xuống một chút, trông giống hệt miệng cười. Nó nhoẻn miệng cười lại với trăng.

Đêm nay nó ra đi tìm hòn đá.

Sáng hôm sau bà Nhị vào phòng đã không thấy thằng con đâu nữa. Bà mở tủ áo tìm con. Nhưng một đám lớn quần áo và chiếc ba lô đã biến mất rồi.

Dạ Ly

(Hết phần 5)

Advertisements

Deep Mirror (Phần 4 – Hình nhân trong gương)

Các phần trước của truyện này:
1. "Mẹ đã bỏ tôi lại cho ngôi nhà"
2. Một đêm nọ soi gương trong căn phòng áp mái
3. Hai thằng bé 

Tôi thấy lạnh toát; bởi gió từ cửa sổ phòng áp mái đang thổi thốc vào tấm lưng ướt đầm mồ hôi, và cũng bởi tiếng người nói phát ra từ cái bóng trong gương. Tôi trân trân nhìn vào hình phản chiếu quái gở của chính mình. Giờ thì trong gương ngày một rõ ràng hơn: thay vì phản chiếu lại cửa sổ đằng sau lưng tôi, đằng sau lưng của kẻ-trong-gương là một màn đêm đặc quánh. Và hình phản chiếu ấy hiện dần là một người con gái.

Một người con gái. Cô ta mặc váy ngắn màu nâu, đeo trên vai một thứ trông có vẻ là cung tên. Mái tóc dài nhạt màu buông tận gối, ôm lấy gần trọn cơ thể. Viền gương sáng dần lên như có đèn lắp trong đó, và bóng người con gái trong gương mỉm cười nhìn tôi, giơ bàn tay phải lên phía trước, áp vào mặt kính. Ánh mắt cô nhìn xoáy vào tôi.

“Chạm vào.”

Cái giọng the thé ấy lại vang lên, và rõ là phát ra từ cặp môi đối diện. Giọng nói thì rùng rợn, nhưng ánh mắt nhìn tôi không có vẻ đáng sợ. Tôi ngập ngừng, nắm chặt tay trái lại, tay kia vẫn giữ tripod. Rồi từ từ, tôi đưa bàn tay trái đặt lên mặt kính, khớp vào bàn tay phải của cô gái phía bên kia gương. Nóng rát. Từ chỗ hai bàn tay tiếp xúc, ánh sáng le lói rồi sáng bừng lên, khiến bàn tay tôi đỏ rần vì nhìn rõ màu máu hồng dưới da. Tay tôi bị dính chặt lấy mặt gương nóng bỏng, cứ như lửa đang nhảy nhót ở khoảng giữa hai bàn tay và nung chảy mặt kính. Hình ảnh cô gái rõ dần hơn; bóng đêm đằng sau cô không đặc quánh nữa, mà nó vần vũ như bầu trời đêm bão. Ánh sáng từ từ lọt qua kẽ ngón tay tôi, lan đều khắp mặt gương, khắp phòng; và rồi, hệt như cảm giác phóng vun vút trong đường hầm dài tối om mà lao ra vùng sáng, tấm gương sáng bừng lên chói lòa, rọi tới mọi góc phòng, xô đổ hết những vùng tối tăm trên tầng áp mái. Tôi nhắm chặt mắt bởi ánh sáng, dù bàn tay vẫn bị dính chặt và bỏng rát hơn bao giờ hết. Giờ thì gió thổi thốc từ cả phía sau và phía trước tôi. Rồi bàn tay tôi mát dần… tôi không còn cảm giác chạm tay với bất cứ cái gì khác nữa. Mặt gương đã biến mất, để lại bên trong đó không gian hun hút tối tăm và cuồn cuộn gió. Tôi nghe trong tiếng gió vù vù loáng thoáng giọng khóc kêu của một vài người nào đó; nhưng tất cả đều nhanh chóng bị nhòa đi hết. Gió từ từ ngưng thổi… ánh sáng tắt dần… và cô gái ấy bước ra khỏi gương.

Cô gái. Cái bóng trong gương. Hình ảnh phản chiếu của chính tôi lúc trước bước ra khỏi gương, lẹ làng lướt qua tôi và ngồi lên bệ cửa sổ.

“Chào Bảo Minh.”

Giọng nói cô ta giờ không còn the thé như trước, mà nó cũng giống như giọng của mọi cô gái trên đời. Thanh. Trong. Rất mỏng manh.

“Chào Bảo Minh.” – cô nói to hơn – “Cậu đúng là Bảo Minh mà, phải không?” – dường như bấy giờ cô ta mới chú ý tới vẻ mặt ngây đơ Tôi-không-hiểu-chuyện-quái-gì-đang-diễn-ra của tôi. “Trời, đừng nói cậu không biết tôi là ai đó!!!”

“Tôi không biết cô là ai.»

Giờ thì trông cô ta cũng kinh ngạc chẳng kém gì tôi.

“Không thể nào. Mẹ cậu không nói gì cho cậu sao?”

“Mẹ tôi đi vắng rồi. Cô là ai?”

« Nghe này, nếu mẹ cậu chưa nói gì với cậu, thì tôi không thể giải thích mình là ai trong vài câu được. Tôi tới đây để nói về chuyện của mẹ cậu.  Nhưng ngay lúc này, tôi cần cậu đóng mặt gương lại đã. »

« Đóng cái gì cơ ? »

« Gương ! Cậu phải đóng nó lại ngay sau khi mở ra, nếu không chỉ ít phút nữa thôi… »

Cô gái không kết thúc câu nói mà ngừng bặt. Cô nhảy khỏi bệ cửa sổ, từ từ tiến gần gương và nhìn chăm chú vào nó, hai mắt mở to căng thẳng. Cô khoát tay ra hiệu tôi « Lùi lại đây ». Tấm gương tối sâu thăm thẳm và không hề phản chiếu một vật thể nào trong căn phòng ; nó như cảnh cổng dẫn vào một thế giới tăm tối hỗn mang nào đó. Trong một thoáng, tôi nghĩ « Cánh cổng thần kì của Doraemon à ? » và tự cười. Nhưng cô gái này không phải là mèo máy… hẳn nhiên rồi… Khuôn mặt xinh đẹp, mái tóc dài miên man phủ kín thân hình hẳn là đẹp. Cô ấy đến đây làm cái quái gì ? Qua một tấm gương ư ? Tôi đâu có cần giấc mơ của mình gay cấn và sáng tạo tới mức này !

Giờ thì im lặng quá độ. Cô gái vẫn căng mắt nhìn vào màn gương. Màu đen trong gương chuyển nhạt dần qua nâu, vàng, rồi bắt đầu rực lên màu đỏ. Những cuộn khói lại vần vũ bên trong khuôn gương ấy ; gió thổi hơi nóng sực tới chỗ tôi và cô gái. Ẩn hiện trong những cột khói trong gương, hai bóng người đen lớn dần… Hai bóng người đang tiến về phía chúng tôi…Hỡi ôi, nếu những thứ điên rồ này quả thực là giấc mơ, thì tôi muốn tỉnh dậy lắm rồi !   Hai bóng người tiến ngày càng gần hơn tới mặt gương, và rồi chúng phóng vút ra ngoài. Cô gái kéo tay tôi đẩy mạnh về phía sau. Tôi ngã nhào vào tường, choáng váng. Hai gã lạ mặt từ trong gương giờ đã nhảy ra khỏi khung và đã đứng yên vị trên sàn phòng, đối diện cô gái ; cô rút vội cung tên và lên thế thủ.

Nhưng không kịp rồi. Hai gã đã lao ra giật cung tên, dồn cô vào  tường và bóp cổ. Tôi vội vã đứng bật dậy, chạy tới gỡ chúng ra. Sẵn chiếc tripod trong tay, tôi đập một nhát vào tên gần nhất. Từ chỗ đánh của tôi, da thịt hắn văng ra những mảng bụi xám tan nát, bắn tung ra bên kia phòng, rồi lại tự động ráp lại vào cơ thể cũ. Tên xám bị đánh không kêu lên đau đớn. Không hề. Tay hắn vẫn tóm chặt lấy cổ cô gái, và hắn ngẩng mặt lên cười với tôi. Ruột tôi quặn lên khi nhìn khuôn mặt hắn. Hắn không-có-mặt. Mắt hắn chỉ là hai cái hốc xám ngoét, cùng màu với toàn thân hắn ; chỉ có khuôn miệng nhăn ra cười độc ác. Quá sợ hãi, tôi liên tiếp đập tripod vào người hai gã. Gã kia, toàn thân màu đen, cũng cười khùng khục. Chúng đè cô gái xuống và bóp cổ cô, tuyệt nhiên không gã nào có ý tấn công tôi cả. Tôi mất bình tĩnh và như phát điên lên, dùng hết sức đánh lấy đánh để hai gã ; nhưng những mảng thịt đen và xám cứ văng ra rồi ráp lại, và hai gã lại càng trơ khuôn mặt quái đản lên cười khùng khục. Cô gái vùng vẫy dưới tay chúng và lẩm bẩm lời gì đó trong miệng như đang cố nói với tôi, nhưng tôi không thể nghe thấy gì hết. Không còn cách nào ư ? Hai gã điên rồ trơ với mọi đau đớn về thể xác. Chiếc tripod không đánh được chúng rồi. Phải có một vũ khí khác… đến từ thế giới của chúng…

Cung tên.

Tôi rút một chiếc tên từ cái rọ bị văng ra xa của cô gái cắm vào người gã xám. Lần này gã giật bắn mình lên đau đớn. Từ vết đâm, chất lỏng xám đặc chảy dài xuống thân mình gã ; gã lảo đảo người và buông tay khỏi cổ.  Tôi đâm một chiếc tên khác vào gã đen. Hắn cũng rú lên đau đớn, ngã bật người ra sau. Cứ thế, tôi rút tên ra và đâm mỗi gã thêm vào phát, rồi dùng hết sức đẩy văng chúng vào trong gương. Chúng rơi tõm vào đó, chìm nghỉm trong màn đen cuồn cuộn như nước biển đêm. Cô gái gượng dậy, thều thào :

« Cắm hết tên xuống trước mặt gương. »

« Sao cơ ? »

« Sao cậu cái gì cũng phải hỏi sao nọ sao kia thế ? Cắm hết đám mũi tên vào trước mặt gương ! Nhanh lên ! »

Tôi lập cập quơ hết nắm tên trong rọ và cắm xuống. Đám tên vừa cắm xuống sàn, một màn sương mỏng tức thì bao quanh lấy tấm gương, phủ kín toàn bộ. Có lẽ do đã trải qua quá nhiều chuyện kì quái trong vòng có mấy mươi phút nên tôi chẳng ngạc nhiên mấy nữa. Tôi đến ngồi bên cô gái xem cô có sao không. Cô đang ngồi thở dốc dưới sàn, nhưng không có vẻ gì sợ hãi hay đau đớn nữa.

« Bọn chúng là a… là cái gì vậy ? »

« Bọn hình chiếu đấy thôi. » – cô nói thản nhiên và mỉm cười với tôi. Đôi mắt cô nhạt màu xám tro hệt hai viên thủy tinh ; có cảm giác nó phản chiếu tất cả suy nghĩ của người đối diện trong đó. « Cảm ơn nhé. Tôi cũng cố bảo cậu đâm bọn nó bằng tên mà không được. May mà cậu lại nghĩ ra… »

« Chốt lại thì cô là ai ? Chuyện gì vừa xảy ra ? Cô nói muốn nói chuyện về mẹ tôi mà ? »

Cô gái khựng lại nhìn tôi. « À, phải rồi. Mẹ cậu. » Cô gái chần chừ một lúc như đang cân nhắc nên nói điều gì trước. « Nghe này, Bảo Minh. Tôi không biết tại sao mẹ cậu lại không nói cho cậu chuyện quan trọng này. Nhưng trước khi đi, bà ấy có để lại hòn đá nào không ? »

« Không. May là mẹ chỉ để thẻ rút tiền lại cho tôi thôi. » – tôi nói rồi chợt hối hận. Câu đùa của tôi không phù hợp với vẻ mặt nghiêm trọng của cô gái chút nào.

« Quá tệ. Tại sao lại không để lại hòn đá ? Nếu không có hòn đá ấy thì cậu dù là người thừa kế cũng không đóng gương lại được. »

« Thừa kế cái gì ? »

« Chuyện dài lắm. Nhưng tấm gương này đã bị mở ra rồi. Nếu không đóng nó lại, một chuyện rất tồi tệ sẽ xảy ra. »

« Chuyện gì thế ? Chuyện vừa rồi chưa đủ tệ sao ? »

« Bọn hình chiếu đó không là gì đâu. Tạm thời các mũi tên của tôi có thể chặn mặt gương lại, nhưng chỉ trong thời gian ngắn thôi… » – nói đoạn, cô gái nhìn ra cửa sổ. Bầu trời trong vắt và lấp lánh sao. Không trăng. Vũ trụ thuộc toàn quyền điều khiển của dải tinh tú.  « Mặt gương phải được đóng lại trước ngày trăng tròn. Đêm không trăng thế này, e rằng chúng ta chỉ có nửa tháng để tìm lại hòn đá. »

« Khổ quá. Rốt cuộc là hòn đá nào ? Mẹ tôi thì sao ? »

« Bảo Minh, chuyện rất dài, và tôi phải kể từ từ cho cậu. Bản thân tôi cũng không biết nhiều lắm đâu. Nhưng chuyện của mẹ cậu, tôi nghĩ cậu phải biết. »

« Chuyện gì của mẹ tôi ? »

Cô gái nhìn tôi, đôi mắt xám tro nhạt màu hơn qua làn nước. « Tôi xin lỗi. Có lẽ mẹ cậu chết rồi. »

Xem tiếp phần sau Trong sâu thẳm con người nghĩ gì ?

Deep Mirror (Phần 3 – Hai thằng bé)

Các phần trước của truyện này:
1. "Mẹ đã bỏ tôi lại cho ngôi nhà"
2. Một đêm nọ soi gương trong căn phòng áp mái

Cái khu ấy vốn là một làng hoa nổi tiếng. Sau đô thị hóa ăn dần ăn mòn những luống hoa của người nông dân, và cuộc sống đô thị cũng biến họ thành dân buôn bán, hoặc không thì bỏ xứ mà đi làm xa rồi không trở lại nữa. Thành thử gọi là làng giờ không còn đúng nữa rồi; phải gọi là xóm. Xóm hẹp, ngoằn ngoèo với cơ man là ngõ ngách nhà cửa, nhà nảo nhà nào hầu như cũng kinh doanh một cái gì đó: quà sáng, quà trưa, quần áo, đầu tóc, đồ điện gia dụng, hàng tạp nham… Cái xóm là một xã hội thu nhỏ, náo nhiệt và lộn xộn.

Do vốn là làng nên giờ đây, nhiều gia đình trong xóm ấy vẫn có họ với nhau, nên nhìn chung dân xóm cũng biết mặt nhau hết. Gia cảnh thế nào thì lạ gì. Này nhé, cái bà Hoa giàu sụ đầu phố ấy, đi đâu cũng đon đả chào mọi người rồi khoe thằng con trai du học, kì thực ai chẳng biết nó phá phách quá, nhà phải tống sang cho ông cậu bên Czech dạy dỗ rồi sắp xếp cho chân chạy việc trong cửa hàng phở nhà ông ấy. Hay là ông cụ nhà chú Khiêm đã sáu tháng nay đâm lẩn thẩn, cứ mở cửa đi lang thang trong xóm rồi không tìm được đường về, làm con cháu tá hỏa đi tìm; ngày nào cũng thế, chẳng nhẽ khóa cửa nhốt cụ lại thì đâu có được. May mà dân xóm ai cũng biết nên nếu gặp thì đều tốt bụng dắt cụ về. Nhưng ồn ào nhất xóm là chuyện nhà bà Nhị bán canh bún ở ngách 5. Bà này trước là con cháu nhà khá giả, cụ thân sinh ra ông bố bà từng có một cái nhà to tổ vật ở phố trên; sau cụ ăn chơi quá, ham đi nghe cô đầu này nọ rồi còn quen thói đèn bàn hút sách, nghiện không bỏ được, của giả trong nhà cứ thế đội nón ra đi. Ông con trai, tức bố bà, cũng công tử từ bé, chẳng biết làm ăn gì mà đổ hết gánh mưu sinh lên vai vợ. Bà nhà may cũng là người thông minh sắc sảo, học được nghề nấu canh bún dưới quê rồi mở quán sinh nhai, sau truyền lại cho con gái mình. Bà Nhị bán hàng từ thuở con gái, yêu rồi lấy anh thợ rèn quê mùa, kế thừa căn nhà các cụ để lại. Hễ ai đến ngồi ăn nhà bà vào lúc quán vắng khách là thể nào cũng được nghe bà kể lê thê chuyện ngày xưa “Cô khổ từ bé chứ được sướng như chúng mày à. Trước 5 tuổi vẫn còn sống trong nhung lụa, nhà giàu lắm, có cái bình sứ Tàu to cao đến trần nhà. Sau cái bình ấy phải bán đi, rồi gia cảnh lận đận, khổ lắm con ơi. Đời cha ăn mặn đời con khát nước. Mà tao nào có dám ăn mặn gì…”.

Sau khi lấy chồng, bà sinh một cô con gái rồi được thông báo là mình không thể sinh con thêm được nữa. Từ đấy, hai vợ chồng bà dồn hết vào đứa con độc nhất và cắm mặt làm ăn; thôi thì được một đứa cũng đã là hạnh phúc lắm rồi. Thế mà mươi năm sau, bà có mang lần nữa. Mừng mừng tủi tủi, hai vợ chồng chắc mẩm đứa con này do trời ban, quyết tâm không siêu âm thăm khám gì hết, mà đợi đến lúc sinh nó ra. Bấy giờ hai người mới biết đứa con thứ hai này mắc hội chứng Down. Chồng bà nhìn vợ bế con mà ngồi thừ mặt trong góc nhà, trầm ngâm cả ngày không nói. Còn bà Nhị, ngoài lúc bế con đều khóc ròng, than trách thân phận hẩm hiu. Có điều, chuyện về đứa con này bà không bao giờ than với khách. Có lẽ bởi nó là vết thương lòng sâu đến mức chính bà không đủ can đảm để chạm tới.

Lại nói, chuyện nhà bà Nhị ầm ĩ trong ngoài xóm là mới gần đây thôi. Trước đây hàng xóm vẫn tế nhị không bàn tán nhiều về hoàn cảnh nhà bà. Mà thằng Nhiên con bà thực ra cũng ngoan ngoãn hiền lành, trong nhà ngoài ngõ ai cũng quý, nên dân xóm quen dần mà đối xử với nó rất bình thường. Nhưng câu chuyện xảy ra từ cuối tuần trước làm ai nấy rùng mình khi nói đến. Chẳng là thằng bé ban ngày vẫn đi lang thang trong ngõ, đến bữa mới về ăn cơm. Dân trong xóm đều tốt bụng và biết gia cảnh nhà này, nếu có vấn đề gì họ dẫn nó về cho mẹ ngay, nên bà Nhị cũng yên tâm để mặc con đi chơi. Thằng bé cũng chẳng bao giờ đi quá xa. Thi thoảng nó sang chơi nhà mấy đứa bé hàng xóm, không thì ngồi ở quán điện tử đối diện xem người ta chơi. Thường nhất là nó tha thẩn ra cái hồ chỗ cuối xóm. Cái hồ nhỏ và hẹp, nhưng nó chia cắt rõ ràng ranh giới hai khu dân cư: bên này là xóm buôn bán, bên kia là khu biệt thự kín cổng cao tường. Khu ấy, một dãy nhà xây mới sáng choang, nhưng lại lọt thỏm một căn nhà cũ kĩ chắc từ tận thời Pháp thuộc. Thực ra hồi trước, nhà ấy là căn nhà duy nhất ở bên hồ. Có lẽ chủ nhà thích sống biệt lập, không can hệ gì với dân cư xung quanh nên kiếm miếng đất bên kia hồ, thời ấy hẳn còn hoang sơ, để xây cất nhà. Sau này đất đai chật hẹp dần, người ta xây biệt thự san sát với kiến trúc hiện đại hơn, thì cái nhà vàng bủng lại lọt thỏm giữa khu vườn um tùm cây cối như vườn hoang thật chẳng khác nào một gã thổ dân lập dị giữa thành phố văn minh. Tầm một năm nay, thằng Nhiên lúc nào cũng chạy loanh quanh hồ rồi dừng ngay trước cửa nhà ấy, ngồi bệt bên vệ cỏ mà nhìn chằm chặp vào cổng nhà. Im lìm. Nó có thể ngồi thế đến mấy tiếng, có khi cả buổi sáng ngồi không động đậy, đến chiều lại mò ra ngồi đúng như thế. Cũng chẳng có ai quan tâm mà kéo nó ra; hoặc giả có người chủ nhà khó tính sẽ ra túm áo nó mà bắt biến khỏi cửa nhà họ, nhưng cũng chẳng có ai cả. Chẳng có người nào ra vào nhà này suốt cả ngày. Hồi trước có một phụ nữ sống cùng đứa con trai nhỏ ở đây, thỉnh thoảng mẹ con họ cũng đi đi về về, tuyệt nhiên vắng bóng người cha. Nhưng có vẻ vài năm lại đây chỉ còn lại đứa con ở đó. Thằng bé này cũng chẳng đánh bạn bè với ai, hoặc là chẳng ai xung quanh biết nó có bạn bè gì không. Ngày nào cũng phải tối mới thấy nó lầm lũi về nhà. Có hôm nó về sớm, gặp thằng Nhiên đứng ngay trước cửa. Nó sững lại một lúc rồi mỉm cười chào. Thằng Nhiên cũng cười lại. Thế là hết. Thằng bé đó còn ít lời hơn cả thằng Nhiên. Chẳng ai biết được trong đầu cả hai thằng bé nghĩ gì.

Cuối tuần trước, cả nhà bà Nhị bị dựng dậy giữa đêm. Một người hàng xóm sống gần cái hồ đã hoảng hốt đánh điện cho bà, thông báo rằng thằng con bà đang lang thang ở cái biệt thự ấy. Lúc đó là gần nửa đêm rồi. Cả nhà vội vàng chạy ra bờ hồ tìm nó. Quả là nó ở đấy, nhìn chòng chọc không chớp mắt vào căn biệt thự cũ kĩ. Lúc nhà nó đến nó cũng không màng. Bố mẹ nó dỗ dành rồi dọa nạt mà thằng bé không chịu nhúc nhích. Hai ông bà cực chẳng đã phải dùng sức kéo nó về. Thế mà nó khỏe ghê lắm. Thằng Nhiên bình thường chỉ tầm 40 kí, người bé tẹo, nhưng đêm ấy nó vùng vằng mà suýt đẩy ngã hai ông bà. Nó bắt đầu gào thét. Nước mắt nó trào ra giàn giụa. Nó thét lạc cả giọng. Nó rống lên như thể bị đau đớn lắm. Tiếng kêu của nó thất thanh trong đêm tối, cứ cao dần lên rồi mỏng đến mức mất hút vào không trung, như thể sinh khí bị ai đó dần hút mất. Rồi nó bắt đầu co giật. Mắt nó nhìn lơ mơ vào không trung, còn toàn thân thì co lên từng tràng hối hả. Mẹ nó sợ hãi bắt đầu khóc ròng. Thằng bé vẫn không đỡ co giật, mà lúc này nó lại còn ho. Nó ho sặc sụa, ho như thể có một thứ gì đó sống đang cựa quậy bên trong nó, đang quẫy đạp rất mạnh để được thoát ra ngoài. Những đốm đen sì văng ra và hiện mồn một trên nền đất phía dưới. Thằng bé vừa ho ra máu.

Bất chợt từ trong căn biệt thự, ánh đèn rọi ra sáng bừng bừng. Không, ánh đèn thì không thể nào sáng như thế được. Chỉ biết là một thứ ánh sáng gì đó bỗng dưng bừng lên trong ngôi nhà ấy, rọi qua cả chỗ gia đình khốn khổ kia đang giằng co nhau. Khi ánh sáng rọi đến thằng Nhiên, nó bớt co giật rồi dừng hẳn. Mắt nó từ trạng thái mở to trắng dã và vô hồn dần dần bình thường trở lại. Nó khép đôi mắt và gục xuống trên tay bố nó, môi mỉm cười thanh thản. Nó ngủ mất rồi.

(Xem tiếp phần 4: Hình nhân trong gương)

Dạ Ly

Deep Mirror (Phần 2 – Một đêm nọ soi gương trong căn phòng áp mái)

Phần trước của truyện này:
1. "Mẹ đã bỏ tôi lại cho ngôi nhà" 

Ngày tiễn mẹ đi, ba năm trước.

Tôi vẫn còn nhớ mình đã rất bồn chồn. Ngay khi máy bay của mẹ bắt đầu trượt những vòng bánh đầu tiên trên đường băng, tôi vội vã chạy ra khỏi sân bay và bắt taxi về nhà, lao thẳng tới tầng áp mái. Không thể nào có chuyện mẹ xuất hiện trên cầu thang mà ngăn cản tôi được nữa.

Không khó khăn gì trong việc phá khóa; chỉ cần một sợi dây kẽm mảnh và mấy mánh học được trên Youtube là sau dăm phút, cái khóa bị mở kêu lên tiếng cạch khô khốc. Giờ thì chỉ cần cầm lấy tay vặn và xoay, tất cả những bí ẩn đeo đẳng mười mấy năm sẽ mở tung trước mắt tôi. Lúc bấy giờ là hai giờ đêm. Lặng thinh. Một mình. Bạn sẽ làm gì khi đứng một mình giữa hành lang vào lúc nửa đêm, đối diện với nỗi sợ hãi kinh khủng nhất bạn từng có từ nhỏ tới lớn? Bên trong căn phòng đó là cái gì có trời mới biết. May nhất thì mẹ giấu… kho vàng trong đó, mà không muốn tôi biết sớm. Động vật hoang dã hay quái vật thì chắc không phải rồi. Ma ư? Ma thì đã đi xuyên qua cửa mà lang thang trong nhà. Giả thuyết cuối cùng: một con người. Một con người hung dữ và hoang dại sống ở đó, trong suốt bao nhiêu năm tháng, cách ly hoàn toàn với cuộc sống chăng? Tôi rùng mình nhớ tới gương mặt lộ ra bên cửa sổ năm ấy… Không, mình đâu có sống trong phim kinh dị! Trống ngực đánh thình thịch. Sống lưng tôi lạnh toát, mồ hôi rịn ra trên trán và ướt đẫm bàn tay lúc nào chẳng hay.

Thịch.

Thịch.

Thịch.

Rồi tự dưng tôi thấy buồn ngủ ghê gớm. Tôi xoay lưng dựa vào tường và tụt xuống bên cạnh cánh cửa. Chỉ ngồi nghỉ một lúc thôi … tu tu tu… tiếng gió rít hay sao ấy nhỉ? Hành lang vẫn sáng đèn, nhưng cả khung hình trước mắt lịm dần trong hư ảo… mẹ đã đi rồi… tôi khẽ nhắm mắt… kẹt… kẹt… kẹt… mùi gỗ cũ nhưng thơm… con không được vào căn phòng đó… không được đâu… kẹt kẹt… xộc vào mũi là mùi đất ẩm giống hệt như mùi trời đất mỗi khi sắp có mưa… không được vào phòng…. có bàn tay… soạt soạt… sàn nhà bỗng như chuyển động, rồi trở nên mềm và êm… tôi ngoẹo đầu và chạm vào một cái gối vương mùi quế… phảng phất mùi quế… tất cả không gian này đều vấn vương mùi quế…

Đó là kí ức cuối cùng của tôi trước khi chìm sâu vào giấc ngủ.

***

Nắng xói thẳng vào mặt tôi khi tỉnh dậy. Có lẽ đã là giữa trưa, và nắng lúc này gắt chứ không còn cái vẻ tinh khôi của buổi sáng sớm. Mắt còn nhắm hờ vì ngái ngủ, tôi thấy lờ mờ một khung cảnh lạ, khiến tôi giật mình nhỏm dậy và nhìn xung quanh. Tôi đang nằm trên một cái ghế bành cũ, loại giống hệt bộ ghế dưới phòng khách, nhưng nó đã cũ kĩ lắm rồi và đầy bụi bặm; có lẽ ai đó đã mang chiếc ghế thừa này lên phòng để cất. Nhưng tôi đang ở đâu? Lúc bấy giờ tôi mới nhớ ra chuyện buổi đêm và nhìn quanh. Ôi, phòng áp mái. Tôi đang ở TRONG CĂN PHÒNG. Và tôi chỉ có một mình, chứ không phải bị vây quanh bởi một đàn sinh vật kì quái, hay một quái nhân gớm ghiếc lom dom ăn thịt. Không biết nên vui hay thất vọng nữa, nhưng căn phòng áp mái hoàn toàn khác với tưởng tượng của tôi. Nó hoàn-toàn-bình-thường. Nó chỉ là một cái nhà kho chứa đầy đồ cũ kĩ: chiếc ghế sofa lem vết cà phê, chục thùng các tông chất đống chạm tới trần, giá cắm nến xỉn màu, vài tấm sắt han gỉ… Ở trung tâm của căn phòng là một khoảng trống khá sạch sẽ, nơi một chiếc gương lớn đứng hiên ngang bệ vệ, như thể chính nó là chủ nhân chốn này; khi không có ai ở đây, tất cả các đồ vật vô tri kia sẽ biến thành đám tay chân của nó. Nắng chiếu vào mặt tôi lúc nãy không phải từ cửa sổ đang mở, mà là ánh phản chiếu qua gương.

Tôi lại gần quan sát – chiếc gương quả thực rất đẹp. Dường như trong tiềm thức của tôi đã có hình bóng nó. Mặt gương mờ xỉn nhưng tuyệt nhiên không bám chút bụi nào. Khung gương bằng gỗ, có vài hình trang trí chạm trổ không mấy cầu kì ở bốn góc, đơn giản và đẹp; có lẽ mẹ đã dùng nó khi tôi còn bé, nên nó mới có vẻ quen thuộc với tôi đến vậy. Tôi miết tay dọc theo thân của khung gỗ bao quanh gương, thế rồi bất chợt nơi đầu tay cảm nhận được một sự khác biệt: có vết khắc trên gỗ ở phía sau. Chắc chắn là thế. Tôi vòng ra sau để rồi khám phá ra một hình khắc nguệch ngoạc: hai vòng tròn lồng vào nhau và một thập tự đè lên trên khoảng giao nhau ấy.

 

***

 

Ba năm kể từ khi mẹ rời nhà và tôi khám phá ra tấm gương. Tôi vẫn không biết chính xác chuyện gì xảy ra vào đêm hôm ấy, sau khi tôi thiếp đi ngoài hành lang và rồi thấy mình tỉnh dậy trong phòng. Tôi tự trấn an rằng có thể chính tôi tự bước chân vào đó, tự nằm lên ghế chứ chẳng có tác nhân nào khác. Rõ là căn phòng áp mái luôn nồng mùi ẩm mốc như đất sau mưa, còn cái ghế bành nơi tôi nằm thì vẫn vương hương quế – những chi tiết rất thật, không có gì đáng sợ cả. Nhưng còn bàn tay? Có một bàn tay chạm vào người tôi lúc ấy. Tôi rùng mình và nghĩ sang chuyện khác. Dù sao thì trong ba năm, chẳng có chuyện kì lạ nào xảy ra trong căn nhà này nữa. Mỗi ngày ở nhà tôi đều leo lên phòng áp mái, thả mình trong chiếc ghế bành cũ thơm mùi quế và đọc sách. Tôi mở tung cửa sổ cho nắng liếm đến từng ngóc ngách của căn phòng, với niềm tin ngây thơ là làm như thế, mọi bí ẩn có thể còn chôn giấu trong căn phòng này sẽ theo nắng mà tan vào không trung. Nhưng thực sự tôi cũng chỉ gan đến thế mà thôi. Tôi không bao giờ ở lại phòng sau 6 giờ cả. Khi trời bắt đầu xẩm tối, tôi bật dậy ngay, đóng cửa sổ kín kẽ và khẽ khàng rút lui khỏi căn phòng, trả nó về với bóng tối và tự giải thoát mình về với cuộc sống hiện đại.

***

Hôm nay, ngày sinh nhật, hẳn là mệt mỏi và chán chường. Tôi đi chơi với đám bạn cùng hội chơi máy ảnh. Là một thằng sợ đám đông nhưng lại giỏi vô cùng cái việc hòa nhập với nó – nhờ thế mà trong nhiều năm sống một mình tôi vẫn có không biết bao nhiêu bạn. Tôi cũng thích họ – nhưng chỉ đến thế thôi. Tôi chưa bao giờ nhắc tới gia đình mình, càng không mời về nhà. Không bao giờ. Căn nhà này là lãnh địa của tôi, là nơi tận cùng của thế giới để trở về.

Và tại sao sinh nhật lại phải là một ngày đặc biệt nhỉ? Nó cứ cứa mãi vào óc cái thực tế là ta đang tồn tại.

Tôi lê bước lên phòng mình mà không buồn bật đèn lên. Đối diện với hành lang phòng tôi là cầu thang đi lên phòng áp mái. Tôi luôn luôn dừng lại nhìn nó một lúc lâu trước khi biến vào trong phòng, để chắc chắn cái góc tối tăm ấy vẫn đặc quánh màn đêm tĩnh mịch, chứ không có gì bất thường cả – một cái bóng xồ ra chúc mừng sinh nhật chẳng hạn. Nhưng hôm nay cầu thang rất khác. Nó không tối tăm như mọi lần nữa, mà leo lét ánh đèn. Đây hẳn là đèn hành lang tầng áp mái rọi xuống rồi. Nhưng tôi không hề bật nó lên, mà cũng cả tuần nay rồi tôi không lên đấy. Thế quái nào mà đèn lại sáng được? Trống ngực lại dộng thình thình, hai tai tôi ù đi và trong đầu lóe lên ý nghĩ “Có người khác đang ở trong nhà!”. “Chà, đúng mơ ước nhé, cuối cùng cũng có trộm đến thăm”. Tôi có thể gọi ai đó. Nhưng ai nhỉ? Tôi không thật sự có ai để gọi cả; tôi cũng không thích người ta kéo đến ngôi nhà của tôi, lùng sục rồi phá tan cái thế giới yên bình này. Phải rồi, căn nhà này là một phần của tôi. Nó chắc chắn sẽ bảo vệ tôi dù có chuyện gì đi chăng nữa. Thế nên tôi tự giải quyết chuyện này. Tôi vớ lấy cái tripod rồi rón rén đi lên cầu thang. Không gian tĩnh mịch tuyệt đối, chỉ có tiếng bước chân tôi khe khẽ, rồi được vọng lại do cầu thang quá hẹp, thành thử cảm giác hệt như có người sóng bước bên cạnh. Cái bóng của tôi mờ mờ ép sát vào tường, rung rung theo nhịp thở hào hển – tôi thấy cả sự căng thẳng ám vào cái bóng mình. Chầm chậm từng bước lên cầu thang, hành lang cũng hiện gần và rõ hơn, cho tới khi tôi dậm bước cuối cùng và thấy mình đã đứng ngay trên tầng áp mái. Rõ là cả đèn thắp sáng hành lang đã bị bật lên; dù vậy, hành lang vẫn tịnh không. Tôi dợm bước nhè nhẹ để kiểm tra hết mọi ngóc ngách, cùng lúc tiền gần hơn đến căn phòng áp mái. Phòng đã khóa – đó là điều chắc chắn. Tôi luôn khóa phòng đó lại mỗi khi bước ra ngoài và còn cẩn thận kiểm tra ít nhất hai lần, chưa có lần nào là quên cả. Nhưng ngay vào thời điểm tôi bước tới sát căn phòng, đèn hành lang phụt tắt. Tôi bị không gian tối thui bao vây trong thoáng chốc, rồi cánh cửa căn phòng quái gở đó bật ra ngay trước mắt tôi, và ánh sáng hắt ra từ trong phòng lại lấp đầy hành lang. Ánh sáng trong phòng ư? Đó là điều không tưởng. Cửa sổ đóng kín, đèn điện không hề được mắc trong đó. Nhưng ánh sáng này rõ ràng không phải ánh sáng điện. Những cái bóng đồ vật trong phòng nhảy lung linh in trên tường – rõ là nến ĐÃ ĐƯỢC THẮP LÊN ở bên trong. Tôi sợ hãi chỉ muốn chạy trốn. Nhưng cũng như cái buổi chiều đáng sợ nhiều năm trước ấy, tôi chết trân không di chuyển nổi. Không, thực ra tôi có cảm giác rõ ràng là đôi chân mình bị ghim dính lấy sàn nhà mà không thể xoay gót. Những cái bóng tiếp tục nhảy múa trên tường, cùng với ánh nến mờ mờ và cánh cửa phòng mở tung, tất cả rõ ràng đang gửi đến tôi cùng một thông điệp:

Hãy đi vào trong đó.

Hãy đi vào trong đó.

Hãy đi vào trong đó.

Tôi cần phải biết chuyện gì đang xảy ra ở đây. Tôi có điện thoại trong túi, có tripod để phòng thân, và đây là nhà tôi. Có cái gì lại đe dọa được tôi cơ chứ? Tự trấn an mình như thế, tôi cứ thế dấn bước vào phòng…

Không thể tin được. Toàn bộ những cây cắm nến vốn vứt lăn lóc mọi ngày được xếp vòng xung quanh tấm gương; nến cháy sáng trên đó, và ánh nến phản chiếu qua gương càng làm ánh sáng chảy ra dồi dào hơn. Tôi ngay lập tức bị hút vào tấm gương lớn ở trung tâm phòng. Lúc này, trông nó giống chủ nhân của căn phòng hơn bao giờ hết. Bóng nó đổ dài về phía sau. Trên mặt gương, ánh nến được phản chiếu trông còn sáng và thật hơn cả bên ngoài. Tôi bước tới gần và soi bóng mình trong đó. Cái tôi phản chiếu bên trong vừa quen vừa lạ. Khuôn mặt dài và trán cao – mẹ vẫn bảo tôi giống bố, dù bà chưa bao giờ cho tôi xem ảnh ông ấy. Tôi nhìn trân trối bản thân mình, cố cảm nhận chút gì đó quen thuộc mà không thể. Tại sao thế này? Tại sao tôi lại xa lạ với chính hình bóng phản chiếu của mình? Tôi cứ đứng nhìn như thế, lặng thinh trong vài phút, cho tới khi chuyện kì quái xảy ra. Bàn tay tôi tự động chạm vào mặt gương. Không, không phải tay tôi. Chỉ có cái bóng trong gương ấy tự chuyển động, dù chủ thể của nó vẫn còn đứng chôn chân sợ hãi. Bàn tay ấy mân mê gương mặt tôi trong gương, hệt như cách một người mù cố gắng ghi nhớ gương mặt một người đối diện. Rồi cái bóng phản chiếu của tôi chuyển động – giờ thì nó đã lệch hẳn so với tôi rồi. Nó không phải là bóng của tôi. NÓ ĐANG SỐNG. Cái bóng mỉm cười, và khuôn mặt giống-hệt-tôi mờ dần, lồng vào đó một khuôn mặt lạ. Toàn bộ cơ thể ấy cũng biến đổi theo. Tôi đang soi gương, và cái bóng trong gương của tôi đang-biến-thành-một-người-khác. Tôi sợ hãi tới mức không còn cảm nhận được gì nữa. Không âm thanh. Không hơi thở. Không ánh sáng. Chỉ có tôi và cái bóng trong gương trừng trừng nhìn nhau. Rồi cái khuôn miệng trong gương khe khẽ chuyển động, như đang cố nói một lời gì đó với tôi.

Từ cái miệng ấy, một giọng the thé phát ra, chạy qua không gian nặng nề của căn phòng áp mái và bám rít lấy trí não tôi lúc này:

“Chúc mừng sinh nhật.”

(Đón xem phần tiếp theo “Hai thằng bé”)

Dạ Ly 

Deep Mirror (Phần 1 – “Mẹ đã bỏ tôi lại cho ngôi nhà”)

Tôi mở cửa vào nhà. Hoàn toàn tĩnh lặng. Căn phòng khách tối đen, chỉ có duy nhất vệt sáng từ ánh đèn hàng xóm hắt qua cửa sổ, rọi vào một góc ghế sofa. Hai cái ghế sofa cạnh nhau, một cái được chiếu sáng, một cái ẩn hiện trong nửa bóng tối; thành thử tôi có cảm giác ai đó đang ngồi đợi tôi trên chiếc ghế tối ấy, và người đó chuẩn bị cất tiếng chào hỏi. Nhưng không, chẳng có ai ngồi đó cả. Chiếc ghế trống không như nó đã như thế, suốt ba năm qua.

Suốt ba năm qua.

Có thể ai đó sẽ thấy chuyện mong chờ một kẻ lạ lẻn vào nhà đợi mình, một tên cướp hay một gã mafia đang chạy trốn cũng được, cái ý tưởng ấy thật điên rồ. Nhưng không điên chút nào, nếu như bạn đã sống một mình lầm lũi suốt ba năm trời bên trong căn nhà rộng thênh thang này. Tối tối không có ai chờ đợi. Tôi vẫn về nhà đúng giờ sau khi tan học, hoặc giả có đi chơi với bạn bè thì cũng không bao giờ quá muộn, dù quả thực chẳng có người quản thúc. Tôi có cảm giác rõ ràng là căn nhà đang đợi tôi. Sẽ không có giọng nói nào chào đón cả, không có cơm canh sẵn; nhưng nếu tôi không về, bản thân ngôi nhà sẽ buồn biết bao. Tôi hoàn toàn thoải mái trong bóng tối tĩnh lặng, nhưng đồng thời cũng phát điên vì sự cô độc. Đó là lý do mỗi tối về nhà, tôi tự vẽ nên viễn cảnh một thằng sát thủ điên rồ lẻn vào tìm cách giết tôi chiếm nhà, hoặc nó sẽ làm gì tôi có thần Neptune mới biết, rồi thì tôi sẽ sử dụng cái đầu đã ngốn rất nhiều truyện trinh thám mà thoát khỏi tay hắn. Hoặc không phải thằng điên, mà là một cô Tấm thì lại càng hay. Nhưng dĩ nhiên, cả hai kịch bản trên chưa bao giờ xảy ra cả. Chỉ có tôi, và ngôi nhà này. Và những âm thanh sự sống bị nuốt chửng trong bóng tối.

***

                20 tuổi không phải là trẻ con. Nhưng 17 tuổi thì vẫn còn non nớt lắm. Thế mà mẹ tôi ba năm trước đã bỏ lại thằng con trai 17 tuổi.Trên danh nghĩa, bà chỉ đi “công tác nước ngoài”, nhưng cái nước ngoài ấy thì thay đổi xoành xoạch, đến mức sau 30 email của mẹ, tôi bỏ cuộc trong việc ghi nhớ nơi mẹ đang ở. Có gì khác nhau đâu? Tôi thì vẫn ở đây, một mình. Với bố, tôi chẳng có kí ức gì  cả; tôi đã lớn lên cùng mẹ trong ngôi nhà to đùng bố để lại. Và giờ mẹ để lại nó cho tôi. Chính xác thì mẹ đã bỏ tôi lại cho ngôi nhà.

Nếu tôi nói “ngôi nhà to đùng” chắc mọi người đều nghĩ nhà tôi giàu lắm, và cái nhà của tôi hẳn phải là một biệt thự khang trang, hoặc nhà mặt phố năm sáu tầng gì đó. Ồ, nhà tôi không giàu, nhưng chắc đời ông hoặc cụ tôi có giàu thật. Ngôi nhà này có từ thời đó. Nó được bao quanh bởi một khoảng vườn nhỏ chi chít bụi gai, nơi mà cây cối tự lớn lên chẳng cần ai chăm sóc. Những đêm mưa, cây cối hò nhau tắm mát rộn ràng, có khi còn đập vào cửa sổ phòng tôi mà gọi (tôi cố gắng nghĩ thế cho đỡ xấu mặt thằng con trai thôi, chứ thật ra bóng cây lá đu đưa in trên tường và tiếng lá xào xạc quả thực khá đáng sợ nếu bạn sống một mình!!!). Còn bản thân ngôi nhà thì như ông cụ trăm tuổi gầy gò nhưng đẹp lão đang dạo chơi trong vườn. Nhà có phảng phất kiến trúc Pháp (chắc thế, tôi có rành đâu!), mái nâu rêu phong và tường vàng, cũng bám vài mảng ố và rêu xanh, nhưng trông còn đẹp mã chán. Nó có hai gian nhà chính, mỗi gian ba tầng, nối với nhau là phòng khách rộng thênh và trang trí rất đẹp. Giá tôi là con gái, chắc tôi đã thích mê được trang điểm lộng lẫy rồi đóng giả cô tiểu thư đài các thế kỉ 19, vắt chéo chân trên bộ salon mà đọc sách bên cửa kính đầy nắng. Nhưng tôi lại là một thằng con trai. Giờ cái phòng khách trống vắng phát sợ (nó bỗng thành nơi cho thằng điên trong tưởng tượng của tôi trú ngụ mỗi tối!).

Đó, ngôi nhà là thế. Tuyệt vời biết bao nếu bạn có một gia đình cơ bản bình thường, có bố mẹ  anh chị em chí chóe mỗi bữa tối. Nhưng không gian của tôi trong căn nhà này từ lâu đã thu hẹp lại trong căn bếp, kéo lên phòng tôi trên tầng hai, và cuối cùng là căn phòng áp mái. Những phần còn lại trong nhà, tôi không màng đến suốt ba năm. Hàng tuần có người đến dọn dẹp vì mẹ tôi đã nhờ trước khi đi, nhưng trong suốt một tuần đấy, nếu có một đôi trẻ nào dọn vào nhà tôi thủ thỉ tâm tình chắc tôi cũng chẳng biết. Mà có biết tôi còn mời họ ở lại ấy chứ.

Tôi chỉ muốn kể về căn phòng áp mái.

Phòng áp mái ở tít tầng trên cùng; muốn lên được đó phải leo qua một cái cầu thang cực kì hẹp và tối, tay vịn đã rệu rã và đầy gỉ sắt; ấy là chỗ duy nhất trong căn nhà mà tôi đồ rằng chưa từng được tu sửa một lần nào từ thời ông nội. Suốt 17 năm mẹ tìm cách ngăn tôi bén mảng lại gần căn phòng áp mái. Bà chặn cầu thang, khóa kín cửa, và khi tôi đủ lớn để có thể giở trò vượt qua tất cả các cửa ải ấy, thì mẹ ra sức kiểm soát việc tôi có lại gần căn phòng hay không. Mẹ càng làm thế tôi càng tò mò hơn. Mẹ bận rộn túi bụi chẳng mấy khi có nhà, nhưng không vì thế mà việc tiếp cận căn phòng dễ dàng hơn được. Chỉ cần tôi bước chân lên hành lang dẫn đến căn phòng, thế nào điện thoại nhà cũng reo, và mẹ tôi ở bên đầu dây kia gọi về vì một lý do bâng quơ ngớ ngẩn. Thế là có lần tôi kiên quyết mặc kệ tiếng chuông mà cứ men đến khám xét phòng; đang tìm cách phá khóa thì mẹ đã xuất hiện ngay trên cầu thang mà yêu cầu tôi đi xuống nhà. Tôi không hiểu và không thể nào hiểu nổi, làm sao mẹ có thể luôn xuất hiện đúng lúc để ngăn cản tôi? Có gì trong căn phòng ấy khiến mẹ sợ hãi đến thế?

Căn phòng có cửa sổ bé tí hướng ra vườn, nhưng hai cánh đóng im ỉm, chỉ trừ có duy nhất một lần khi tôi tám tuổi, đang chơi bóng ngoài vườn và bất giác quay lên nhìn , như thể chính căn phòng đó gọi tôi quay lại. Hai cánh cửa kẽo kẹt từ từ mở ra, và tấm rèm đỏ nhung tung ra phần phật trong gió, cảm giác như nó điên cuồng hưởng lấy sinh khí bầu trời sau từng ấy năm bị cầm giữ trong hai cánh cửa đóng chặt. Tôi cứ tưởng mẹ nổi hứng dọn dẹp lại phòng, vì quả thực chưa lần nào căn phòng ấy được dọn dẹp cả. Thế là thằng nhóc tám tuổi nhảy loi choi, hai tay huơ trên không trung và hướng lên căn phòng mà gọi “Mẹ ơi, mẹ làm gì đấy? Cho con lên chơi với!!!”. Mẹ thò đầu ra cửa sổ mà vẫy tay với tôi, lẽ ra là thế. Nhưng không phải mẹ. Thay vào đó, tấm rèm đỏ vẫn lật phật, và từ trong bóng tối của căn phòng, tôi thấy một gương mặt nhăn nheo vảng bủng, mái tóc trắng cước phủ lòa xòa che nửa khuôn mặt; nửa khuôn mặt còn lại từ từ hiện ra khỏi bóng tối phòng mà nhìn xuống tôi phía dưới sân. Đôi mắt quắc lên tia đáng sợ, rồi trong giây lát, cái bóng ấy vụt biến mất trở lại vào bên trong phòng. Hai cánh cửa cũng từ từ đóng lại. Trong năm giây, tiếng kẽo kẹt hoàn toàn biến mất, và cái cửa sổ lại im lìm như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Tôi đứng chết trân tại chỗ, không rời mắt khỏi cửa sổ mà cũng chẳng dám khóc. Rồi tôi nghe tiếng mẹ thét lên bên trong nhà. Lúc bấy giờ thằng bé tám tuổi mới bắt đầu mếu máo, chạy ào vào phòng khách tìm mẹ. Từ đằng sau tôi thấy mẹ co người trên ghế, toàn thân run run và nghe như có tiếng khóc. Quả là mẹ tôi khóc. Mẹ ôm chặt lấy tôi mà khóc rấm rứt, khóc như thể bao nhiêu nỗi niềm bị bọc trong một cái bọc to mà chỉ có một cái lỗ nhỏ xíu để thoát ra, nên nó cứ óc ách mà chực nổ tung. Mẹ nói trong nước mắt, nghe như lời “xin lỗi”. Cứ thế, mẹ ôm tôi, hai mẹ con tôi ngồi trong phòng khách, để mặc cho ánh tà dương chiếu vào gay gắt rồi tắt lịm dần, thả chúng tôi vào vòng tay lạnh lẽo của màn đêm. Bóng tối lại lên ngôi trong căn nhà. Nhưng tôi sợ nhất là dường như bóng tối đã lên ngôi trong lòng hai chúng tôi. Đó là lần cuối cùng mẹ con tôi thực sự thân thiết đến thế. Sau ngày hôm ấy, mẹ rất bận. Tôi cứ thế tự lớn lên, vẫn đi học bình thường và thỉnh thoảng còn kể chuyện vui ở lớp cho mẹ nghe. Mẹ hưởng ứng như những-người-mẹ-khác, nhưng tôi không nhớ có lần nào mắt mẹ chạm mắt tôi hay không nữa. Những hình ảnh phải chứng kiến hôm ấy đã bám riết lấy tôi suốt nhiều năm sau đó, tới tận bây giờ. Và ánh nắng cuối ngày phủ lên hai mẹ con trong buổi chiều kì lạ cũng tắt ngấm cùng tất cả sự ấm áp lẽ ra phải có trong căn nhà này. Hay sự ấm áp ấy thực ra cũng chưa từng tồn tại?

[Đón xem phần 2 – Một đêm nọ soi gương trong căn phòng áp mái]

Dạ Ly