La La La La Land

Warning: This review contains spoilers.

 

“Here’s to the fools who dream”

Facebook có trò gửi thông báo “Ngày này năm trước” cũng hay. Xem lại những bài đăng cũ, có nhiều chuyện không nhớ mình từng làm. Cũng có những chuyện không tin nổi mình đã từng quên.

Nhớ nhớ quên quên có khi chỉ như trò xổ số. Có những kí ức quan trọng, nhưng êm đềm tới mức văng đâu đó bên lề trí nhớ mình. Nó không cồn lên. Nó lặng lẽ ngủ vùi. Nó không đòi hỏi sự nhớ thương. Đến lúc ai đó nhắc nhớ lại mới thảng thốt, ủa, sao quên được chuyện đó vậy? Tim nhói đau một khắc, thấy nôn nao xa xót sao đó, lại để một bóng hình từng thân thương, một kí ức từng quan trọng như thế rơi vào dĩ vãng.

Một chuyện tình đẹp chẳng hạn.

la-la-land-goslingstone-0

Tôi đã nghĩ về những điều đó khi xem xong La La Land. Khi Mia bước chân vào quán bar và nhìn thấy biển hiệu Seb’s, giống hệt mảnh giấy cô để lại cho Sebastian, từ nốt nhạc thay dấu phẩy cho đến nét chữ, có lẽ cô cũng tự hỏi “Tại sao mình có thể quên được?”. Sao cô có thể quên sự lạc quan và nồng nhiệt của Sebastian mỗi khi nói về câu lạc bộ nhạc swing, hay khi động viên cô? Sao cô lại quên từng góc đường trên “thành phố những vì sao” này đều có dấu chân anh và cô từng bên nhau? Sao cô quên bản nhạc anh chơi trong lần đầu họ chạm mặt? Còn Sebastian, có lẽ anh không nghĩ sẽ còn gặp lại Mia. Anh đã quen với việc bước qua góc phố có khuôn mặt cô, giờ là minh tinh màn bạc, được vẽ rất lớn ở đó. Giống như với Mia, kí ức về tình yêu của họ lặng lẽ ngủ yên trong anh, để mặc cho cuộc đời cuốn cả hai đi.

Ngày qua ngày ta chẳng nghĩ về nhau nữa. Cho tới khi mắt lại chạm nhau.

La La Land, thoạt nhìn là một chuyện tình lãng mạn giữa anh nhạc công Sebastian và cô gái pha cà phê ôm mộng diễn viên Mia. Nhưng trái với sự mong đợi của mọi người về một tình yêu kết thúc viên mãn, bộ phim thực ra là câu chuyện về những ước mơ. La La Land là một tên gọi khác của Los Angeles, đồng thời cũng ám chỉ mảnh đất dành cho những kẻ mộng mơ, tìm kiếm nơi nương náu giữa cuộc đời vốn quá khốc liệt cho tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm. Bản thân những người tham gia làm phim cũng mang rất nhiều tâm sự và những từng trải của họ vào câu chuyện tình Mia – Sebastian. Damien Chazelle bắt đầu viết kịch bản La La Land khi còn đang học ở Harvard, vào thời điểm mà “làm phim Hollywood” vẫn còn là ước mơ xa vời. Bản thân anh từng ôm mộng làm tay trống trong dàn nhạc Jazz từ thuở trung học, nhưng lại rớt hết lần này tới lần khác. Emma Stone (vai Mia) và Ryan Gosling (vai Sebastian) cũng không lạ gì những khó khăn khi làm diễn viên. Những lần thử vai bị từ chối ngay sau một câu thoại, hay bị cắt ngang vì đạo diễn muốn ăn trưa hoặc nghe điện thoại, hay thất bại năm lần bảy lượt mới có một vai diễn nhỏ,… tất cả đều được lấy cảm hứng từ những chia sẻ của hai diễn viên chính. La La Land là mảnh đất để những khát khao của họ được thể nghiệm qua từng khung hình tuyệt đẹp, qua những bản nhạc và điệu nhảy say mê, cuốn người xem vào không gian điện ảnh cổ điển mà rất lâu rồi mới thấy lại trong một bộ phim Hollywood. Phim không phải câu chuyện về một tình yêu không sống qua nổi thử thách của cuộc sống, mà là câu chuyện về hai ước mơ quá lớn để nhét vừa một tình yêu.

la-la-land-trailer1-screen1

Nhiều người bước ra khỏi rạp phim và khóc. Có lẽ vì bản nhạc tuyệt đẹp giữa Mia và Sebastian đã không chơi được đến nốt cuối cùng. Có lẽ bởi trong những phút ngắn ngủi ngồi nghe Sebastian chơi lại bản nhạc ấy, Mia lại mơ về cuộc sống có anh, về những lần “giá như” đã chẳng xảy ra: giá như anh hôn cô ngay lần đầu tiên họ gặp; giá như vở kịch độc diễn năm nào thành công rực rỡ, và có Sebastian ở đó; giá như anh theo cô tới Paris, và chơi nhạc Jazz ở thành phố nghệ thuật ấy, trong khi cô theo đuổi ước mơ diễn viên; giá như họ lấy nhau và rồi sống hạnh phúc… giá như. Nhưng những cột mốc trong mối quan hệ của hai người đã chẳng hề giống giấc mơ của Mia. Sebastian ở lại Los Angeles. Anh đạt được ước mơ của anh. Cô cũng vậy. Nhưng họ không được ở bên nhau.

lalaland0

Người ta khóc không phải vì cái kết buồn, mà vì nó quá thật. Vì cái nắm tay này đây rồi sẽ chỉ là cảm giác mơ hồ trên làn da. Rồi người ngồi bên mình đây biết đâu sẽ có một cuộc sống khác chẳng có mình trong đó. Người đến với ta đúng là người ta hằng tìm kiếm, nhưng sai thời điểm, thì tới ngã rẽ cũng sẽ buông tay thôi.

 

“Em sẽ luôn yêu anh.”

“Anh cũng vậy.”

Mia và Sebastian chia tay rất nhẹ nhàng. Thậm chí, ngay cả khi nói những lời đó, họ không nghĩ là chia tay. Họ không thấy rằng khi ước mơ dần thành hình, thì tình yêu đang dần trôi xa khỏi họ. Họ không nghĩ rằng người đang ngồi trước mặt mình đây rồi sẽ chỉ là kí ức.

Và kí ức tuyệt đẹp này, tình yêu đầy đam mê này, cũng sẽ chỉ là một kí ức để rơi vào quên lãng mà thôi.

“City of stars

Are you shining just for me?

City of stars

You’ve never shined so brightly.”

la-la-land-watching-04-videosixteenbyninejumbo1600

 

1/2017

Dạ Ly

Tình yêu kéo dài ba năm

"Mối tình của chúng ta đẹp vì nó là bất khả.”

Vừa bước ra một cuộc hôn nhân không mấy hạnh phúc, Marc Marronier phán một câu xanh rờn:

“Không có tình yêu hạnh phúc.”

Hừm, Marronier là kẻ nào mà dám quay lưng lại với giá trị cổ xưa nhất trên đời của nhân loại? Yêu mà không hạnh phúc thì con người tồn tại làm quái gì cơ chứ – nhiều tín đồ của thứ chất gây nghiện mang tên mỹ miều tình yêu sẽ không ngại ném đá Marronier. Nhưng gã cũng có lý lẽ của gã: để hạnh phúc người ta cần cảm giác an toàn; nhưng để tiếp tục yêu người ta phải cảm thấy không an toàn. Nghĩa là muốn hạnh phúc thì đừng yêu.

“Yêu là chết ở trong lòng một ít” cơ mà!

Thôi được rồi, để tôi giới thiệu Marc Marronier đã. Gã là một tay ăn chơi đàng điếm có tiếng ở Paris. Sống bằng nghề tiệc tùng và viết bài giới thiệu những lạc thú của giới thượng lưu, Marronier chẳng có cớ gì để không đắm chìm hưởng thụ những cuộc hội hè ăn chơi bất tận. Sau nhiều năm theo đuổi các cô gái chân dài xinh đẹp, hắn cuối cùng cũng chịu đóng ván vào thuyền, kết hôn với Anne – người phụ nữ đẹp nhất mà hắn biết – và đời hắn tưởng như không thể mỹ mãn hơn.

Chỉ có điều, tình yêu của hai người chết dần ngay sau kì trăng mật. Vì những lý do mà Marronier chưa chắc tới giờ gã đã hiểu.

Tệ hơn nữa, Alice bỗng dưng lại xuất hiện trong đời gã.

 

ALP3DN15

Marc Marronier là nhân vật chính trong tác phẩm Tình yêu kéo dài ba năm của nhà văn Pháp Frédéric Beigbeder. Beigbeder dường như đã xây dựng nên Marronier dựa trên nguyên mẫu là chính mình – một nhà văn, nhà sản xuất truyền hình nổi tiếng, và tay chơi có hạng. Sinh trưởng trong một gia đình danh giá, Beigbedder sớm tiếp xúc với những giá trị văn hoá thượng lưu của Pháp. Ông cũng từng có một sự nghiệp Quảng cáo khá lừng lẫy. Tất cả cho tác giả những trải nghiệm phong phú về cuộc đời; thế giới quan của ông rộng mở phóng khoáng, hình thành nên giọng văn mỉa mai châm biếm, lại dí dỏm nghênh ngang rất hiếm gặp trong các tiểu thuyết tình cảm. Beigbeder viết nên cuốn sách diễm tình “Tình yêu kéo dài ba năm” bằng miệng lưỡi một kẻ bất cần chẳng còn chút niềm tin nào vào tình yêu, nhưng cuối cùng lại say đắm trong lưới tình đến không thoát ra nổi – một tâm hồn lãng mạn, nghệ sĩ và thăng hoa tới tận cùng.

 

Cái chuyện tình yêu chỉ kéo dài ba năm là như thế này:

“Tình yêu có một năm say mê, một năm dịu ngọt, còn một năm thì chán phè.” Chạm đến ngưỡng này, người ta hoặc là có con cho thêm lý do ở lại, hoặc là chia tay. Marc Marronier trong một cơn chán chường tột đỉnh đã quyết định tin cái thuyết ấy. Vì nó cũng đúng quá cơ; có cả nghiên cứu, số liệu chứng minh hẳn hoi: cứ ba cặp đôi ở Paris thì có một cặp chia tay sau ba năm hẹn hò; phần lớn các vụ ly hôn cũng diễn ra trong năm thứ tư của cuộc hôn nhân. Tình yêu, dưới cái nhìn trần trụi của khoa học, chỉ là hiện tượng cơ thể giải phóng hàng loạt các chất gây cảm giác đê mê, hoan lạc. Yêu một người là “nghiện” người đó theo đúng nghĩa – bởi oxytocin trong cơ thể khiến ta khao khát được ở bên cạnh họ, giống hệt cảm giác của một con nghiện ma tuý đang lên cơn. Sau khoảng ba năm, các chất “yêu” bão hoà dần. Ta hết yêu.

Chết thật!

Khoa học đến thế cơ mà. Bằng chứng rành rành ra đó, tình yêu không thể đi qua lời nguyền “ba năm”. Người ta có thể vẫn ở bên nhau, nhưng không còn là vì yêu nhau nữa. Marc Marronier đã lấy cuộc đời mình ra để thử nghiệm, để chứng minh, và rồi nhận ra điều ngược lại.

 

Alice xuất hiện làm đảo lộn cuộc đời Marronier. Hắn chú ý đến Alice ngay từ cái nhìn đầu tiên – dáng vẻ nóng bỏng không cưỡng lại nổi của nàng như một thứ “chất kích dục tự nhiên”, khiến Marc ngay lập tức khao khát. Những mối tình của hắn, từ trước đến nay, đều bắt đầu từ cảm xúc da thịt. Nó có thể trái ý những người đoan chính muốn tin rằng tình yêu là sự giao hoà của hai tâm hồn thuần khiết, còn thứ rung động nhục cảm như Marc dành cho Alice thì không phải tình yêu đích thực. Kệ đi, mỗi người có một kiểu cảm nhận yêu khác nhau. Với Marc, hắn lúc đầu còn chẳng nghĩ mình yêu. Hắn chỉ đơn giản là muốn ngủ với Alice. Muốn ở bên cạnh Alice. Muốn gặp Alice. Muốn có được một giọng cười, một cái nhìn, một chút nhớ nhung của Alice. Muốn được đọc dù chỉ là một dòng trả lời thư của nàng. Muốn là một phần trong cuộc đời nàng. Gã yêu từ lúc nào chẳng hay.

À, mà quên nói, Alice lại đang có chồng. Và nàng chẳng có ý định ly hôn.

 

Ngay từ đầu, mối tình này của Marc đã là vô vọng. Như cách tác giả diễn giải ở chương đầu tiên, tình yêu là một trận chiến thua từ trước. Khác với Marc Marronier đã chia tay vợ, Alice không thấy cần thiết phải bỏ chồng. Nàng cũng chẳng quá vồ vập trong quan hệ với Marronier. Nàng ban cho hắn tình yêu kiểu nhỏ giọt, gặp nhau thì lao vào say đắm, nhưng xa rồi là nàng chẳng trả lời lấy một dòng thư. Có lẽ bởi Alice lý trí hơn Marronier. Alice vừa muốn sự an toàn hạnh phúc bên chồng, lại vẫn thích hưởng thụ cảm giác phiêu lưu tình ái với Marc. Nàng chẳng mất gì. Chỉ có mình Marronier khổ sở vì yêu đơn phương. Trên đời có ai ngốc hơn những kẻ đang yêu đơn phương. Cũng chẳng có ai cảm nhận được tình yêu tới tận cùng như họ – khi chỉ có mình họ chờn vờn với một tình yêu không được thừa nhận, với chuỗi suy nghĩ ám ảnh không dứt về người họ không thể có.

“Yêu là như thế đấy: một cơn đau bụng với phương thuốc duy nhất, đó là em.”

 

***

 

Tình yêu kéo dài ba năm kể chuyện yêu rất trần trụi, ngôn ngữ có thể sẽ gây sốc cho những người vốn quen đọc giọng văn lãng mạn như Nicolas Sparks hay Marc Levy. Beigbeder đã viết về tình yêu vừa như mỉa mai bỡn cợt, vừa như triết lý nhân sinh. Ông đã cho những kẻ đang yêu một không gian để điên cuồng cùng những cảm xúc của họ, để được yêu mà không bị phán xét, để cuối cùng từ bỏ tất cả mọi thứ, kể cả niềm tin đã cũ hay sự an toàn, để giành lấy hạnh phúc chênh vênh bên người họ thật sự yêu. Không có những cuộc hẹn lãng mạn hay những tình tiết làm màu thường thấy trong tiểu thuyết tình cảm, Beigbeder viết về tình yêu thô ráp và chân thực. Toàn bộ cuốn sách dường như chỉ có Marc Marronier và cái thế giới tâm tưởng của hắn, cùng tình yêu dành cho Alice. Alice trở thành cả thế giới đối với Marc.

Thôi được rồi, ai mà quan tâm tình yêu kéo dài bao lâu? Trong lúc này đây, lúc hai kẻ yêu nhau được ở bên nhau, thì thế giới này chỉ cần có hai người là đủ.

Đơn giản thế thôi.

6/2016

Chạy nhanh lên, quá khứ đuổi sau lưng

“Almost is never enough

So close to being in love”

 

Tôi và nó vốn không thân nhau. Chỉ là có lần ấy, cả hai đứa cùng rời văn phòng muộn và gặp đúng lúc trời mưa tầm tã. Nó miễn cưỡng quay ra hỏi tôi “Lên food court lầu trên ăn tối đi.”; tôi cũng miễn cưỡng đồng ý. Một tiếng ăn tối chắc không đến nỗi tệ.

Thế rồi nó lại có hứng tâm sự chuyện đời; tôi ậm ừ cho có vẻ đang lắng nghe. Đến một lúc, nó hỏi một câu khiến tôi bắt đầu chú ý:

“Biết từ nào trong tiếng Anh là buồn nhất không?”

“Từ gì thế?”

Almost.”

 

***

 

Tôi vốn không định đọc cuốn sách ấy. Từ vẻ bề ngoài, Nỗi cô đơn của các số nguyên tố đã là chuyện tình u ám và lạnh lẽo. Tôi không chắc có gì để tìm kiếm trong một cuốn sách cô đơn từ tên truyện tới hình minh hoạ như vậy. Nhưng nó đã lôi sách ra khỏi túi và đặt hẳn lên tay tôi “Này, đọc thử đi.”

14291_10_08_15_noi-co-don-cua-cac-so-nguyen-to-

Nỗi cô đơn của các số nguyên tố không phải sách dành cho tất cả mọi người. Tình tiết hấp dẫn, nhân vật với tính cách cuốn hút xiêu lòng người, hay một cái kết viên mãn khơi dậy cảm xúc tích cực, … tất cả những điều đó bạn sẽ không tìm thấy trong tác phẩm đầu tay này của Paolo Giodano. Nhưng nếu bạn cũng đã từng nằm bó gối một mình trong phòng, không làm gì khác ngoài nghe nhạc và khóc vì mối tình đã cũ kĩ mà tim chưa chịu lành, thì đó, Nỗi cô đơn của các số nguyên tố sẽ có một chỗ đặc biệt trong bạn. Như cái cách cuốn sách này đã chinh phục nó, và tới giờ là tôi.

“Số nguyên tố? Hừm, tớ không thích toán học lắm đâu.” – tôi bảo nó, tìm cách chối từ cuốn sách.

“Không, không phải là sách toán học. Truyện thôi mà.”

“Thế số nguyên tố thì liên quan gì?”

Số nguyên tố là những số chỉ chia hết cho 1 và chính nó; giữa hai số nguyên tố cặp, luôn có một số chẵn chen vào giữa. Paolo Giodano đã dùng hình tượng số nguyên tố để xây dựng nên cặp nhân vật Mattia và Alice. Giữa Mattia và Alice có một mối ràng buộc do số phận cố tình sắp đặt, không phải để họ đến được với nhau, mà để trêu ngươi hai người. Gặp gỡ lần đầu trong một bữa tiệc từ thuở niên thiếu, Mattia và Alice đã ngay lập tức “nhận ra nhau”. Cảm giác ấy rất lạ:  không hẳn yêu từ cái nhìn đầu, nhưng có khi nào bạn gặp một người, và dù chưa thực sự rung động, bạn biết rằng người đó dành cho mình? Như một nửa đi lạc vậy. Mattia và Alice tìm thấy điều ấy ở nhau. Họ duy trì một mối quan hệ thân thiết, luôn bước đi song song nhưng không bao giờ đủ gần để nắm tay được. Kể cả khi nhận ra đã yêu nhau tới mức nào.

“Suýt nữa thì” đến được với nhau. “Almost”.

Mattia và Alice, cả hai đều là số nguyên tố cô đơn.

the-solitude-of-prime-numbers

Almost, buồn cười vậy đấy.” – nó nằm dài người ra bàn, thả câu chuyện vào im lặng. Nếu là bình thường, hẳn tôi đã nhăn nhó vì bị giữ lại nghe một người không thân thiết than thở những chuyện tôi không quan tâm. Nhưng chuyện nó kể cứ như chạm trúng một chỗ mềm đang sưng lên của tôi. Rằng nó, hình như cũng giống Mattia và Alice. Nó đã thầm yêu một người suốt bảy năm, không bao giờ thổ lộ. Rồi người đó trước ngày cưới gửi nó một tin nhắn, tiết lộ nhiều năm trước anh ta cũng yêu nó. Ngộ ghê ha. Hai người đó đã chơi với nhau từng ấy thời gian, từng ấy ngày tháng gần gũi, trò chuyện, nhưng không một ai chịu nói ra cảm xúc của mình. “Gần tới thế mà… Lẽ ra là yêu luôn rồi ấy.” Nhưng gần tới vẫn không bao giờ là đủ.

“Almost is never enough.”

Giống như Mattia và Alice.

 

Alice cố gắng mấy cũng chỉ tới mức gửi tín hiệu tới Mattia “Này, tớ thích cậu đấy.” Nhưng với số nguyên tố Mattia, người thường xuyên tự rạch tay mình để khỏa lấp cảm giác tội lỗi, thì trông mong gì cậu lên tiếng trước. Với Alice cũng chẳng dễ dàng gì. Khi Mattia trở về từ nước ngoài tìm Alice, có lẽ đã sẵn sàng yêu, cô bỏ lỡ cơ hội cuối cùng với anh vì mặc cảm đôi chân thương tật và cơ thể gầy gò do chứng biếng ăn. Giữa nước Ý lãng mạn nhường ấy, lại có hai tâm hồn yêu thương thuần khiết không đến được với nhau. Sao lại có những mối tình tan vỡ từ khi chưa hình thành? Nước Ý trong Nỗi cô đơn của các số nguyên tố không giống những gì ta vẫn nghĩ về nó. Không si mê cuồng dại. Không mộng mơ, hoài bão. Nước Ý lặng lẽ của những con người bế tắc, chẳng dám yêu nhau.

 

Vấn đề của cả Alice và Mattia là họ không rũ bỏ được quá khứ đau buồn. Alice vẫn sống trong kí ức vụ tai nạn trượt tuyết năm 8 tuổi, khoảnh khắc cô đối diện cái chết, để rồi sau này không dám đối diện cuộc sống. Mattia thì không nguôi cảm giác tội lỗi vì đã bỏ rơi đứa em gái thiểu năng ở trong rừng, khiến nó mất tích, mà không ai biết có phải đã rơi xuống hồ nước không. Cả hai không bao giờ rời mắt khỏi quá khứ. Họ loạng choạng bước đi trong cuộc đời, để rồi va vấp và làm tổn thương những người khác. Quá khứ đeo bám họ. Nó vươn dài cánh tay tội lỗi ra và giữ chặt lấy hai người. Có tương lai nào cho những người sống hoài trong quá khứ.

 

***

 

Tôi nhìn nó bước đi, băng qua con đường ướt xuống khu để xe. Không khí còn ẩm ướt như làm cái bóng nó nhoè đi, nghiêng ngả hơn bình thường. Tự dưng tôi muốn trời mưa thêm lần nữa.  Để khỏi phải về ngay. Để trong một lúc yếu lòng, thế nào tôi cũng sẽ nhắn tin cho người ta “Chắc em yêu anh thật đấy.” Nhưng tôi đã không làm thế. Như Mattia và Alice, và nó nữa, tôi cũng đã để mặc cho tình cảm chơi vơi vậy thôi, rồi biến mất, như rất nhiều những mảnh tình đáng thương khác trên đời này.

“We almost knew what love was

But almost is never enough”

 

Nỗi cô đơn của các số nguyên tố có thể không dành cho tất cả, nhưng tôi tin rằng ai cũng nên đọc thử một lần. Tôi tin rằng những cảm nghiệm trong cuộc đời, dù có tồi tệ, cũng đáng trải qua. Cuốn sách này, có thể chỉ để lại vết mờ trong bạn vì chẳng cảm thấy liên hệ, hoặc nó có thể ám ảnh bạn, nếu như bạn tìm thấy con số nguyên tố bên trong mình. Đâu có sao. Đôi khi thứ cứu rỗi con người là lắng nghe một chuyện tình buồn.

Dạ Ly

 

Hà Nội trong mùa hè chiều thẳng đứng

“… Sầu thôi xuống đầy

Làm sao em nhớ

Mưa ngoài song bay…”

 

Mùa Giáng sinh 1994, Trần Anh Hùng tới Hà Nội thực hiện dự án điện ảnh Xích lô – bộ phim sau này giành nhiều giải thưởng quốc tế, đánh dấu tên tuổi vị đạo diễn tài năng người Pháp gốc Việt này. Mà rồi, hình như cái tài của Hà Nội là để thương để nhớ cho người. Sau lần thăm Hà Nội ấy, Trần Anh Hùng lại bắt cảm hứng để thực hiện dự án phim khác, kể về một Hà Nội rất… Hà Nội, nhưng nhuốm những sắc màu lạ qua lăng kính của riêng tác giả. Mùa hè chiều thẳng đứng (The Vertical Ray of The Sun) đã ra đời như thế.

 poster-phim-mua-he-chieu-thang-dung

Mùa hè chiều thẳng đứng ấn tượng ngay từ tên gọi. Thoạt nghe, chẳng mấy ai đoán được phim sẽ kể câu chuyện gì. Trần Anh Hùng nói, anh có sở thích đặt những cái tên thật lạ, thật mơ hồ cho các tác phẩm của mình; người xem vì thế thấy tò mò mà muốn khám phá tác phẩm. Ví dụ, một phim nổi tiếng khác của Trần Anh Hùng là Mùa đu đủ xanh cũng có tên chẳng liên quan đến nội dung như vậy. Phim kể về cuộc đời từ thơ ấu tới trưởng thành của một phụ nữ tên Mùi; ngoài một phân cảnh nhỏ nhân vật chính học làm món nộm đu đủ, không có chi tiết nào liên quan trực tiếp hay giải thích ý nghĩa của tên gọi. Nhưng có lẽ cũng chẳng mấy ai phàn nàn về chuyện “tên một đằng, phim một nẻo” của Trần Anh Hùng nữa, bởi họ đã bị dẫn dụ vào thế giới nghệ thuật mê mị, được đẽo gọt tới hoàn mỹ của anh mất rồi. Đối với Mùa hè chiều thẳng đứng, khi ánh nắng mặt trời chiếu một góc thẳng đứng với Trái Đất là mùa hè tới. Ấy cũng là khi mọi cái đẹp, cái xấu, cái hay dở của chốn phố thị Hà thành đều hiện lên rõ ràng dưới ánh nắng hạ oi ả. Cái tên chỉ cắt một lát nhỏ vào nội dung chính của phim; bản thân phim cũng chỉ cắt một lát nhỏ vào bức tranh cuộc đời. Nhưng cái lát cắt ấy thường rất sâu, rất ngọt, hiếm ai quên được. Cái tài của đạo diễn là ở đó.

tumblr_inline_n14bweHEEF1qhlh68

Lại lạm bàn về cái tài của đạo diễn. Trần Anh Hùng, đối với riêng người Việt, có thể coi như một Thạch Lam của điện ảnh. Những câu chuyện trong phim của ông thường không đầu không cuối, “truyện không có chuyện”, lãng đãng tựa áng thơ bay. Người xem phim đôi khi có cảm giác đang tản bước trong một bảo tàng mỹ thuật; thảng hoặc họ dừng lại, ngắm nghía cho đã mắt những tuyệt phẩm thị giác được dựng nên kì công trau truốt, đẹp đến mê hồn. Mùa hè chiều thẳng đứng là một tác phẩm điện ảnh đẹp trên mọi phương diện là vì thế. Phim kể về cuộc sống bình dị của ba chị em gái trong một gia đình Hà Nội vừa truyền thống vừa hiện đại. Họ sống giữa khu phố cổ, nơi vốn được xem là cái nôi của văn hóa Tràng An. Cô Sương, chị cả, lấy chồng là một nhà thực vật học thường xuyên công tác xa nhà. Người chị hai, Khanh, có vẻ hạnh phúc nhất, lúc nào cũng quấn quít bên anh chồng nhà văn hào hoa lịch lãm. Cô Liên em út mới ngoài hai mươi, thường phụ chị cả bán hàng ở nhà. Cô rất hay tán tỉnh anh chàng hàng xóm khách quen và tỏ ra là một cô gái dạn dĩ, dù kì thực còn rất ngây thơ trong chuyện tình cảm. Sống cùng anh trai tên Hải, Liên có những cảm xúc lãng mạn trên mức ruột thịt với anh trai mình; hai anh em họ thường bị mọi người tưởng nhầm là một cặp vợ chồng. Ngày giỗ Mẹ, khi cả bốn chị em và hai chàng rể cùng tụ họp lại làm mâm cơm cúng -phụ nữ lúi húi dưới bếp nấu ăn; đàn ông ngồi uống trà, đàm đạo. Buổi tối, khách đến chật cứng căn nhà, tiếng nói chuyện lao xao. Ba chị em nằm tựa vào nhau mà trò chuyện về mối tình của các cụ hồi trước. Khung cảnh yên ấm qua đi, những rắc rối trong cuộc sống riêng của từng người dần được lột tả. Hà Nội dường như còn giấu diếm những nỗi lòng thầm kín, trong một mùa hạ xáo động hơn nhiều vẻ ngoài an bình của nó.

5R6AOQFv

images162571_q5

71c04-khanh

Hà Nội hiện lên trong Mùa hè chiều thẳng đứng vừa quen vừa lạ. Ai đã nghe đến mòn tai rằng Hà Nội đẹp, đến khi xem phim của Trần Anh Hùng vẫn sẽ phải thảng thốt “Là Hà Nội đấy ư?”. Con mắt nghệ thuật cùng tâm hồn của một người con Việt mang dòng máu Pháp đã giúp Trần Anh Hùng nhìn ra những cái đẹp dung dị ở xứ này, mà người bản xứ như ta vẫn bỏ qua hàng ngày. Là con gà vàng luộc vàng ươm trên đĩa. Là những khóm hoa dập dìu bên dưới ban công nhà. Là một căn hộ nhỏ bé nào đó trong những không gian phố cổ chật hẹp, có hai anh em đang dìu nhau nhảy điệu valse chậm. Là ba chị em gái thả suối tóc đen tuyền gội đầu trong sân. Và mưa, rơi tí tách qua hàng hiên nhà. Hai anh em nắm tay nhau rảo bước thật nhanh qua những dãy bán cá vàng, rực rỡ như những đốm lửa. Bài hát “Cuối cùng cho một tình yêu” của Trịnh Công Sơn vang lên trong mọi ngõ ngách của câu chuyện, vương vấn hệt như một chuyện tình không bao giờ muốn có hồi kết:

“Ừ thôi em về

Chiều mưa giông tới

Bây giờ anh vui

Hai bàn tay đói…

Bây giờ anh vui

Hai bàn tay mỏi

Thời gian nơi đây

Bây giờ anh vui

Một linh hồn rỗi

Tình yêu xứ này…”

***

 

Khó có thể nói Mùa hè chiều thẳng đứng là một cái nhìn hoàn toàn chân thực về Hà Nội. Người ta xem mà thấy nơi đây là lạ, có mình trong đó mà sao cũng chẳng phải mình. Đây cũng không phải một tác phẩm điện ảnh hoàn hảo. Lời thoại thực ra khá gượng, có lẽ do đạo diễn là người nước ngoài; và vợ anh, nữ diễn viên Trần Nữ Yên Khê trong vai cô em út Liên cũng không thể chuyển tải lời thoại một cách tự nhiên được. Tiết tấu phim hơi chậm, cùng với tính chất “truyện mà không có chuyện”, khiến phim trở nên kén người xem hơn hẳn. Nhưng ngay cả với những điểm khuyết đó, Mùa hè chiều thẳng đứng vẫn là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp cả về nội dung lẫn hình ảnh. Người yêu phim hay yêu Hà Nội hẳn không thể nào bỏ qua một phim như thế này. Họ có thể đánh giá, rằng cái nhìn của Trần Anh Hùng quá lãng mạn, hoặc những nhân vật của anh chẳng giống những người họ gặp xung quanh chút nào. Nhưng thật ra chúng ta cũng chẳng mấy khi biết được mọi tâm sự thầm kín của nhau. Những nhân vật này, họ cũng có thể là thật lắm chứ. Nào ai biết được trong cái thị thành xô bồ kia, giữa phố cổ đan xen u tịch và bát nháo, cổ xưa và hiện đại, đâu mới thực là Hà Nội ta hằng tìm kiếm?

wRSnjnj

Dạ Ly

Kokuhaku – Sự thinh lặng của mất mát

Lãng đãng trôi như một ảo ảnh nặng nề, những dòng thú tội đan xen nhau trong Kokuhaku đã hé lộ dần bức tranh u ám về tội lỗi con người, nơi sự cứu rỗi dường như quá xa vời.

 

Phía dưới nhà tôi hồi trước là con ngõ dài. Có một dạo mùa hè nhàn rỗi, mỗi chiều tôi thong thả đạp xe lòng vòng, tiện thì tạt vào hàng chè ngồi ăn tán chuyện. Chạng vạng, lũ trẻ đã đi học về mới ùa ra chơi đùa chạy nhảy. Chúng thổi bong bóng suốt từ đầu tới cuối ngõ. Tôi đạp xe lướt qua đám ấy, thấy bong bóng dạt cả hai bên nhường lối tôi đi, tản mác rồi rơi dần, vỡ tan khi còn chưa kịp chạm đất. Biến mất tăm trong thinh lặng.

Hình ảnh con xóm cuối chiều với đám trẻ thổi bong bóng thoáng làm tôi nghĩ tới Kokuhaku (tựa tiếng Anh là Confessions – Những lời thú nhận). Thằng bé thiên tài Shuya đã chạy đuổi theo mẹ trên con đường cũng vương đầy bong bóng như thế. Một bong bóng chấp chới bên tai Shuya, và rồi Poc, vỡ òa. Shuya nhớ mãi dáng mẹ lúc bỏ nó ra đi, không một lần ngoái đầu nhìn lại; nhớ đến cả tiếng bong bóng vỡ bên tai “Poc… Cô có nghe thấy không, âm thanh của một thứ rất quan trọng với cô vừa biến mất.” Câu nói của nó khiến tôi giật mình, sự mất mát thì có âm thanh gì? Tại sao tiếng bong bóng vỡ nhẹ tênh kia lại ám ảnh Shuya đến thế? Hẳn nhiên, tâm tư của Shuya không dễ đoán định chút nào, bởi cậu ta là một nhân vật rất đặc biệt. Nói cho đúng thì mọi nhân vật trong Kokuhaku đều đặc biệt. Họ đã kể một câu chuyện đau thương đầy những khắc khoải day dứt về lương tri con người, nhưng cũng vì thế mà làm nên tuyệt phẩm của nền điện ảnh Nhật Bản.

Kokuhaku image 06

Được chuyển thể từ tiểu thuyết kinh dị gây tiếng vang của nhà văn Kanae Minato, Kokuhaku ngay từ đầu đã đảm bảo có một kịch bản trau truốt và hấp dẫn. Tại Nhật Bản, Kanae Minato được tôn xưng là “Nữ hoàng thể loại iyamisu” – một nhánh truyện trinh thám tập trung khai thác các mảng tối trong tâm lý con người. Kokuhaku là đại diện của Nhật Bản đi tranh giải thưởng Oscar lần thứ 83 cho Phim nước ngoài xuất sắc nhất, và là phim duy nhất của châu Á lọt vào chung khảo. Tuy không được xướng tên trong lễ trao giải, nhưng chừng đó có lẽ qúa đủ để nói lên độ xuất sắc của tác phẩm này. Để chuyển tải nhuần nhuyễn một câu chuyện nhiều tầng lớp ý nghĩa như Kokuhaku qua ngôn ngữ điện ảnh, phải nhờ đến thiên tài của đạo diễn Tetsuya Nakashima. Những trường đoạn quay chậm trở thành đặc sản của ông trong Kokuhaku: cánh bướm nhẹ đậu trên ngón tay, những đứa học sinh nghịch ngợm đạp chân xuống sình bùn, mây chạy đuổi nhau trên bầu trời sau mưa… những cảnh vật tưởng yên bình nổi bật trên nền xám lạnh như ánh dao lam – một cảm giác bức bách bất an, báo trước điềm chẳng lành.

Câu chuyện bắt đầu vào buổi học cuối cùng trước kì nghỉ xuân. 37 đứa học sinh cấp hai vô tâm chỉ mải nói chuyện và làm việc riêng; chúng không chú ý tới cô giáo Yoko Moriguchi đang dặn dò những lời cuối trước khi cô chính thức nghỉ việc. Moriguchi cũng không buồn nhắc nhở đám học trò, vẫn tiếp tục bài giảng với giọng nói đều đều. Cho tới khi cô nhắc tới cái chết của con gái mình thì bọn trẻ mới bắt đầu chú ý. Chúng chăm chú nghe và phấn khích tột độ khi biết được rằng hai kẻ giết người là học sinh của lớp này. Đứa thứ nhất là Shuya, một học sinh xuất chúng với mong muốn ngây thơ là được mọi người chú ý tới, cho dù có phải giết người đi chăng nữa. Đứa thứ hai là Naoki, một kẻ-thất-bại điển hình trong trường học, yếu đuối kém cỏi ở mọi mặt nên luôn khao khát ai đó chịu làm bạn với nó. Tới phút cuối cùng, Moriguchi tiết lộ chi tiết đắt giá nhất: cô đã tiêm máu nhiễm HIV vào hộp sữa của hai kẻ sát nhân để chúng phải trả giá cho hành động của mình.

Kokuhaku đề cập đến những vấn đề nhức nhối nhất trong xã hội Nhật: tội ác tuổi vị thành niên, bạo lực học đường, sự thiếu hiểu biết về HIV/AIDS, sự thờ ơ của giáo viên đối với học sinh, sự bất lễ của học sinh với giáo viên và bất mãn của chúng với người lớn, cách thức giáo dục sai lầm của những ông bố bà mẹ… Đối với riêng tôi, đây là một câu chuyện về sự mất mát. Mỗi nhân vật trong Kokuhaku đều phải đối diện với khoảnh khắc họ mất đi một điều quý giá, và không có mất mát nào được báo trước. Cô giáo Moriguchi mất con gái Manami và một nửa tâm hồn mình. Naoki, thằng bé đã tiếp tay với bạn để giết chết cô bé con sáu tuổi, cuối cùng đánh mất cả bản tính con người. Mizuki, người duy nhất đứng lên bênh vực Shuya, cuối cùng cũng ngã xuống dưới tay người mình yêu.

Còn Shuya mất gì?

Một đứa bé chịu sự giáo dục hà khắc từ nhỏ của mẹ, và rồi cũng bị bà bỏ rơi. Một đứa bé từng nghe mẹ nói giá như chưa từng sinh ra nó. Shuya có lẽ mất mát nhiều hơn những gì cậu ta có thể nhận thức được.

“Không ai dạy tôi rằng giết người là sai trái.”

Kokuhaku image 12

Lần đầu tiên tôi nhận ra đó là một điều cần phải dạy. Không phải nó quá hiển nhiên ư? Tôi nghĩ rằng trong quá trình lớn lên, hẳn có ai đó đã nói với tôi rằng “Giết người là sai trái.” Nhưng có ai ở bên cạnh Shuya? Có ai để nói với cậu những điều như thế? Shuya chỉ làm bạn với chồng sách Vật lý mẹ để lại và những đồ vật do cậu phát minh ra. Sau này Shuya có thêm Mizuki, một người thực lòng yêu thương và muốn hiểu cậu; nhưng cô bé đã xuất hiện quá trễ để cứu rỗi một tâm hồn khiếm khuyết. Trong buổi chiều mẹ bỏ đi ấy, Shuya không chỉ mất đi một người mẹ. Cậu ta mất đi khả năng làm một đứa trẻ bình thường, với những niềm vui và cảm xúc bình thường. Tài năng xuất chúng Shuya kế thừa từ mẹ chẳng phải là một đặc ân của Thượng đế, mà chỉ là một lời nguyển rủa mà thôi. Cậu rồi sẽ cô đơn vì chính tài năng của mình. Cậu sẽ hủy diệt chính mình, sau khi đã kéo theo rất nhiều số phận đau khổ khác.

Shuya có quan tâm gì đến mất mát. Có chăng là thế giới này đối với thằng bé vốn đã mong manh như bong bóng xà phòng, và khi biến mất nó cũng vỡ nhẹ tênh. Poc.

Confessions-015

Nên mỗi lần nhìn thấy cảnh đám trẻ ngây thơ thổi bong bóng ngoài ngõ, tôi lại nghĩ tới câu chuyện của Kokuhaku. Tôi nghĩ đến những bong bóng vỡ tan trong thinh lặng – một tiếng poc mong manh không đủ để đánh động con người. Chẳng biết từ lúc nào mất mát đã bắt đầu. Đúng như cô giáo Moriguchi đã nói, Luật dành cho trẻ vị thành niên là đồng minh lớn nhất của đám học sinh đang lớn: cho dù chúng có gây tội ác thì cũng không phải chịu trách nhiệm. Nó được đưa ra để bảo vệ trẻ-em, đối tượng dễ tổn thương nhất; nhưng ai biết được từ lúc nào những đứa trẻ bắt đầu có suy nghĩ và dục vọng như người lớn? Cái nền ngây thơ trong sáng của 37 đứa trẻ trong phim không bao bọc nổi sự u tối lên ngôi trong tâm hồn con người.

Ai biết từ khi nào sự trong sáng đã bỏ ta đi?

Dạ Ly

Once – Rồi cùng nhau đi hết bản nhạc này

Trái tim người ta, lạ đấy, vẫn thổn thức vì những tình ca chẳng dành cho mình. 

 

Phố dài xao xác mưa. Nhìn từ góc quán này ra, con đường vốn vắng vẻ giờ đã tịnh không bóng người.

Nghĩa là anh vẫn chưa tới.

Cũng không sao. Chúng tôi chẳng phải đang hẹn hò yêu đương, nên không cần ra bộ hờn dỗi làm gì. Trong quán có màn hình LCD treo trên quầy bar, người ta đang chiếu bộ phim ca nhạc Once – Một lần như thế. Phim đã gần mười năm nhưng tôi chưa cảm thấy cũ. Giả dụ như xem lại Once sau mười năm nữa, có lẽ tôi vẫn nghĩ nó mới phát hành đâu đó trong năm thôi. Giống như một số kí ức đã êm chỗ trong trí nhớ rồi, thời gian chẳng làm phai mờ được; tất cả chỉ như mới xảy ra ngày hôm qua.

bb29d6904c

Once không phải một bộ phim Hollywood. Nó được Ireland sản xuất vào năm 2007, với kinh phí chỉ nhỉnh hơn trăm ngàn euro một chút. Không cần đến ngôi sao hay hiệu ứng điện ảnh đắt tiền, những gì Once có chỉ là hai nghệ sĩ dù tài năng nhưng chưa có tiếng tăm, một câu chuyện giản đơn, và âm nhạc đầy ngẫu hứng. Xuất thân khiêm tốn nên thành công của phim ở cả phòng vé và về mặt chuyên môn có thể coi là kì tích. Dẫu vậy, người đã xem Once tới ba lần như tôi thấy thành công đó chẳng có gì bất ngờ – Once xứng đáng là một trong những phim ca nhạc xuất sắc và đáng xem nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Câu chuyện kể về hai nhân vật không tên Anh và Cô. Anh là nhạc công, ngày ngày hát dạo trên phố; Cô là dân nhập cư, kiếm sống bằng nghề giúp việc và bán hoa dạo. Họ đều nghèo. Cô gặp Anh khi đang trình diễn một bài hát mới sáng tác – vốn anh chỉ hát những tác phẩm của mình khi đường phố đã thật thưa vắng người. Tác phẩm hôm ấy, chỉ có Cô dừng lại nghe và tán thưởng.

“Viết cho người anh yêu đúng không?”

“Phải rồi.”

“Cô ấy giờ ở đâu?”

“Đi mất rồi.”

“Anh còn yêu cô ấy không?”

“Không…”

“Nếu không còn yêu, anh đã chẳng viết nên bài hát này.”

Thế là họ quen nhau. Anh biết được rằng Cô cũng yêu âm nhạc, lại chơi piano rất cừ nữa. Họ cùng rong ruổi trên những con đường, cùng trò chuyện và ca hát. Cả hai đều mang thương tổn trong lòng, đều khắc khoải khôn nguôi về mối tình đã qua không trọn vẹn. Âm nhạc trở thành mối nối bền chắc kì lạ giữa hai tâm hồn mong manh đơn độc.

Mà họ lại chẳng yêu nhau.

Trong quán, phim đang chiếu đến đoạn Cô hát cho Anh nghe bản nhạc The Hill cô viết còn dang dở. Không gian tối chật hẹp chỉ có hai người bên phím dương cầm, và giọng hát cô vang lên trong veo, run rẩy như pha lê sắp vỡ. Anh lặng lẽ nghe và ngắm nhìn Cô. Trái tim người ta, lạ đấy, vẫn thổn thức vì những tình ca chẳng dành cho mình. Trong thế giới của Once, âm nhạc là ngôn ngữ kể chuyện, và là cách để các nhân vật giao tiếp với thế giới bên ngoài. Nó trở thành một nhân vật độc lập và hết sức quan trọng trong toàn mạch truyện.  Các ca khúc được lồng ghép tự nhiên vào mỗi phân cảnh, thoạt qua có vẻ ngẫu hứng, nhưng lại thể hiện khả năng biên kịch xuất sắc. Bản thân cuộc hành trình của hai nhân vật chính cũng đầy những sự kiện ngẫu hứng: họ ghé vào một cửa hàng bán nhạc cụ rồi cùng nhau hát lần đầu tiên ; anh chơi nhạc cho cô nghe trên xe buýt ; cuối cùng cả hai tập hợp các nhạc công đường phố khác và cùng ghi âm một đĩa nhạc. Chẳng có một kế hoạch cụ thể nào cả. Quãng thời gian Anh và Cô ở bên nhau là cùng nhau đi qua những bài hát, vậy thôi.

***

“Này, mai em bay rồi đấy.”

“Anh đến rồi đây.”

Anh vội vã bước vào quán, cười như muốn chuộc lỗi vì đến muộn. Chắc khi đi rồi tôi sẽ nhớ nụ cười của anh. Chắc tôi sẽ nhớ cảm giác mỗi lúc ngẩng lên nhìn thấy anh, và tất cả mọi sự vật xung quanh chúng tôi đều như biến mất. Thế giới này, trong một khoảnh khắc, chỉ cần có hai người là đủ.

Có lẽ một lúc nào đó tôi cũng đã yêu anh.

Giống như Anh và Cô. Có đôi khi, hai cuộc đời xa lạ bỗng cắt ngang nhau; người không quen biết một ngày lại thành thân thuộc và quan trọng vô cùng. Ta đọc được trong nhau sự cô đơn và niềm hi vọng. Ta cảm được niềm vui nỗi buồn, để dìu nhau qua một quãng đường đời ngắn ngủi. Rồi lại chia tay. Có nhau một lần như thế rồi thôi. Bởi vậy, xem phim mới không khỏi nuối tiếc, sao Anh và Cô không thể yêu nhau? Số phận đưa họ đến với nhau làm gì nếu biết chẳng thể nào gắn bó? Người đến với ta không phải để ở lại trong đời, mà chỉ ở lại trong kí ức.

 

Once là một tác phẩm điện ảnh đặc biệt như thế. Kể cả khi đã biết hết các tình tiết trong phim, bạn vẫn phải xem mới ngấm được cái hay của nó. Câu chuyện của Once giản đơn tới mức nếu chỉ nghe kể lại, chẳng mấy ai thấy thú vị. Chỉ đến khi đắm chìm trong thế giới ấy, lắng nghe những bản nhạc ấy, mới cảm được cái chất “nghệ” phiêu du lãng mạn trên những con đường Ireland cổ kính xinh đẹp, hay nuối tiếc bâng khuâng cho một “mối tình” tưởng như đã chín.

Có lẽ từ ngày mai tôi không được gặp lại anh nữa. Có lẽ một năm sau, anh sẽ chẳng còn quan trọng với tôi như bây giờ. Mười phút nữa thôi, hai chúng tôi sẽ đứng dậy và chia tay nhau.

Anh bảo “Thôi, ngồi lại nghe hết bài này đã rồi về.”

Ai cũng ước gặp được tri kỉ như thế, một lần trong đời.

Rồi cùng nhau, ta đi hết bản nhạc này.

Dạ Ly

30 days of book challenge

 

Day 1 – Best book you read last year

It was a tough year and I honestly did not have a lot of time to read (what a shame!), but I would give the winner cups to Outliers by Malcolm Gladwell, and Hey Whipple, Squeeze it! by Luke Sullivan. The two book pretty much say a lot about my year huh? It was all about Advertising and how to thrive and stand out. If you’re not working in the industry, then Hey Whipple would not be really on point. (If you are though, have you really NOT read it?). But Outliers is definitely a must-read for everyone. Very entertaining and enlightening! How lucky I badged in my housemate’s room and grabbed any book on her bed.

Day 02 – Books that you’ve read more than 3 times

Harry Potter by J.K. Rowling, the first book and the last book, since one is magical and happy, and the other is dark and tear-jerking as hell. And I think I’ve re-read some parts of Life of Pi (Yann Martel) a lot of times.

Oh, and how can I forget Norwegian wood (Haruki Murakami)? I think I could rehearse many erotic scenes and witty dialogues in my mind lolz.

 

Day 03 – Your favorite series

Harry Potter, no argument.

 

Day 04 – Favorite book of your favorite series

I’d go for The Deathly Hallows. The Fire Goblet is a very close runner-up.

Many Harry Potter fans would agree with me on this, I bet.

 

Day 05 – A book that makes you happy

Ahh, such a touch call. Books make me happy generally, even the ones that make me cry. Do I really have to pick? OK, then here are the best (possibly):

  • Thuong Nho Muoi Hai (Twelve Months of Nostalgia) by Vu Bang. The author wrote it when he was living in Saigon, estranged from his own family in Northern Vietnam. He missed Northern culture so much, and the book perfectly reflected all the love, the hatred and the nostalgia. It just feels like my own heart talking. I had to bring the book with me when I first moved out to Saigon last year, to feel a little bit home.
  •  Harry Potter and The Sorcerer’s Stone. This is the modern fairy tale, no doubt!
  •  De Men phieu luu ki (Adventures of a Cricket) by To Hoai. When the author passed away, I felt like a part of my childhood just died.

 

Day 06 – A book that makes you sad

The Solitude of Prime Numbers by Paolo Giordano. I read it six, seven years ago, and yet I still can’t shake off the darkness. It is a slow book, and from my own experience I haven’t found many of my friends that have read, or enjoyed it. Sometimes it just feels a little bit too lonely to be in this world.

 

Day 07 – Most underrated book

I have no clue. I’ve got like two or three candidates here, but they are all mangas, so no.

 

Day 08 – Most overrated book

The Alchemist by Paulo Coelho. Not that I did not enjoy the book, but I just did not get the hype about it. Like, Hello by Adele is a good song but I don’t see how it’s better than her previous works (and personally I prefered Writings on the wall by Sam Smith, released roughly at the same time). Avatar was an OK movie on many standards, then how the hell did it get so much recognition? Then The Alchemist. Entertaining, maybe. But phenomenal and enlightening, really?

First, about the hidden messages, they are not very hidden in the book to be honest. They are all laid bare right on the surface, right on the words. I’d prefer books that keep me digging a little deeper. Moreover, most of the messages sound too positive and optimistic, which turns the book into some kind of self-help tutorial. Go for it! Dream it! The whole universe will listen! Come on, you know what? Those things may well be true, but only if you’ve shed enough tears and sweats to figure that out for yourself. A book can’t tell you everything about life. You’ve got to find your own treasure, that’s the real story of life.

 

Day 09 – A book you thought you wouldn’t like but ended up loving

Outliers by Malcolm Gladwell. I did not expect to like any book at that moment actually (you seem to be very ignorant when under depression), but turns out the reading the book was a very pleasant experience.  

Also, Su that ve quang cao (The truths about Advertising) by Thai Quan & Truong Tiep Trung.  Short, solid, witty and funny. You may as well enjoy it even if you’re not in the business.

 

Day 10 – Favorite classic book

The Great Gatsby, F. Scott Fitzgerald.

And OK, I first read it because I’m a fan of Haruki Murakami, but The Great Gatsby is truly a masterpiece. Trust me I read it twice!

 

Day 11 – A book you hated

Well well, hate is a strong word. I don’t ever want to use “hate” for books. Uhm, but let’s think. Do I ever hate a book I read? I may say Chinese romance novels, but I’ve never read any of them so I’ve got no credits to say so. May I say I hate all textbooks?

I only had a terrible experience with reading when I tried And then there were none by Agatha Christie. Don’t get me wrong, I loved the novel. It was phenomenal and incredibly clever, but the translation killed all the mood. I literally wanted to scratch out the book because of some stupid Google translation. Still, the story is marvellous. You may have enjoyed the TV series lately, but the book is so further an experience.

So no, I don’t have a book that I hate. In fact, if I hated a book I would’ve stopped right after ten pages. Same treatment for people.

 

Day 12 – A book you used to love but don’t anymore

I am a faithful, loyal book lover. I don’t dump books I love.

 

Day 13 – Your favorite writer

Haruki Murakami.

F. Scott Fitzgerald.

Nguyen Huy Thiep.

Vu Bang.

Stephen D. Levitt & Steven J. Dubner.

 

Day 14 – Favorite book of your favorite writer

This is interesting.

Haruki Murakami – Kafka on the shore. I don’t see the hype about 1Q84 after already getting high with this masterpiece.

F. Scott Fitzgerald – The Great Gatsby. I have not read other books by Fitzgerald to be honest, but they are on my list.

Nguyen Huy Thiep – Khong Co Vua (There is no King) the short story.

Vu Bang – Mon La Mien Nam (Bizarre Foods of the South)

Stephen D. Levitt & Steven J. Dubner – Superfreakonomics   

 

Day 15 – Favorite male character

OK, this may be awkward. I don’t want to admit it, but my favorite male character comes from an erotic story that I’ve been following. The author of the story is a genius in the way he/she builds up characters, and I am quite obsessed with this particular villain. His name is Lord Arlington from The Rebellious Slave. He’s handsome, gorgeous, smart, powerful, manipulative, mind-controlling, and most importantly crazy sexy,  the alpha male devil that women often fantasize about.

And I beg you, don’t google the story haha.

 

Day 16 – Favorite female character

Midori from Norwegian wood. Oh my sexy, moon-eyed Midori. Someday I’m gonna find a Toru, and I’d be head over heels in love with him the way Midori was. If we could all live like Midori, life’d be all the more easier.

 

Day 17 – Favorite quote from your favorite book

“What really knocks me out is a book that, when you’re all done reading it, you wish the author that wrote it was a terrific friend of yours and you could call him up on the phone whenever you felt like it. That doesn’t happen much, though.”

_The Catcher in the Rye, J.D. Salinger_

“I suppose in the end, the whole of life becomes an act of letting go, but what always hurts the most is not taking a moment to say goodbye.”

_Life of Pi, Yann Martel_

Day 18 – A book that disappointed you

The Alchemist, for one. And Kitchen by Banana Yoshimoto. I expected Kitchen to be a dark criminal tale, but it turned out to be a romantic story. Not that it was bad, but quite a bummer for me.

 

Day 19 – Favorite book turned into a movie

The Great Gatsby the movie is a very good adaptation. Harry Potter is nowhere near the level of the book, but still you can’t get a better cast than the amazing one we had.

Life of Pi, well, I’m not gonna argue with the academy. Of course Lee Ahn did a terrific job picturing the story on the big screen, and yeah, my Richard Parker looks badass.

Day 20 – Favorite romance book

The Girl Who Played Go by Shan Sa. It was brutal and heart-breaking, yet love blossoms in a hopeless place. Love, Lust and Life were portrayed to the best. I did not put the book down even for one minute. It was not romantic by Hollywood standard, but it was truly romantic for me.

Day 21 – Favorite book from your childhood

Chu Bong trong lang Ca (The Goby of the Fish Village). I don’t remember the author, nor can I find this anywhere in the Internet. A very good story though. I’m surprised it’s not more famous.

Day 22 – Favorite book you own

Duh, many of them.
Day 23 – A book you wanted to read for a long time but still haven’t

I want to finish the 1Q84 trilogy but haven’t had the time. And I’m keeping an eye on Conversations with God by Neale Donald Walsch.
Day 24 – A book that you wish more people would’ve read

69 by Ryu Murakami. It’s NOT an erotic book, OK?  It’s just a very, very interesting book that I just don’t happen to know anyone who’s read it.

 

Day 25 – A character who you can relate to the most

Midori in Norwegian wood. I’m currently in love with a guy just the way Midori is with Toru Watanabe. And just like her, getting naked on the floor with him is *cough* pretty much all I think about.

Other than that I see myself in Holden Caulfield of Catcher in the Rye.

 

Day 26 – A book that changed your opinion about something

Superfreakonomics. It changed my opinion about pretty much everything, from prostitution to climate change!

(Oh the good old days I read books on Economics!!!)

 

Day 27 – The most surprising plot twist or ending

The ending of And then there were none by Agatha Christie. Genius!

And Life of Pi has a great and surprising revealing moment, too.

 

Day 28 – Favorite title

Y tuong nay la cua chung minh (This is our idea) by Huynh Vinh Son. Being a variation of a kid song title, the book name sounds catchy, easy to remember, and absolutely cute. So is the book.

 

Day 29 – A book everyone hated but you liked

What book does everyone hate? I have no idea.

I may count Hundred years of Solitude (Gabriel Garcia Marquez) as one. Of course, a Nobel novel is in no way universally hated, but my friends used to say they don’t find it very interesting. I had a great time with it though. (I did not get all the metaphors to be honest. I plan to try my luck with it another time).

 

Day 30 – Your favorite book of all time

Truyen Kieu by Nguyen Du. And I am NOT kidding.

Birdy – trả lại ngày nắng cho xứ sương mù

(Bài viết đã đăng trên báo 2! Người Trẻ Việt từ năm 2012)

Mỗi hình ảnh và thanh âm đều có thể làm người ta rơi vào cái mê cung đầy mê hoặc của tiếng piano và một giọng ca pha lê; ru mọi người lạc trong không gian âm nhạc của mình – có lẽ “Birdy” Jasmine van den Borgaerde đang làm quá tốt so với lứa tuổi 14 của mình.

  1. “Adele nhỏ”

Kể từ khi chiến thắng Open Mic UK 2008 bằng ca khúc tự sáng tác So be free, Birdy 12 tuổi vẫn lặng lẽ đến trường, không lưu diễn, không hào nhoáng, không paparazzi. Có lẽ báo chí mặc nhiên cho rằng showbiz còn đầy những ngôi sao teen bóng bảy biết làm dáng, đáng để đưa lên mặt báo, hơn là cô bé già trước tuổi khăng khăng trung thành với mái tóc nâu nhạt không kiểu cách, với piano và những bản indie pop chẳng hợp thời. Kí hợp đồng với Good Soldier Songs (hãng đĩa của chủ tịch Warner Bros Anh Quốc), Birdy phải liên tục di chuyển giữa Anh quốc lạnh lẽo và Los Angeles náo nhiệt, làm việc với những nhà sản xuất danh tiếng mà ban đầu chính cô bé cũng sợ sệt; 11/2011, debut album mang tên Birdy ra đời sau-ba-năm. Với thời gian chuẩn bị lâu như vậy, điều lạ là album chỉ có 1-2 bài mới, còn lại là các bản cover: Skinny Love (cover Bon Iver), People help the people (cover Cherry Ghost), Shelter (cover The xx), 1901 (cover Pheonix), Terrible Love (cover The National), White winter hymnal (cover Fleet Foxess). Không phải điều tốt khi một nghệ sĩ mới cover quá nhiều trong album đầu tay, nhưng cách Birdy thể hiện lại khiến những bài hát như sinh ra để được cô bé hát vậy.

Birdy 3

Cái tên Birdy chỉ bắt đầu lan tỏa khi lần lượt các single được ra mắt trên trang Youtube Official Birdy, đồng thời trở thành soundtrack trong series ăn khách The Vampire diaries. MV Skinny Love đạt đến 13 triệu view, trong khi đó trên radio, các single trên cũng lần lượt vào top chart tại Anh và châu Âu. Nếu như giọng hát “nữ thần” của Adele làm khán giả phải sững sờ cảm động thì chắc chắn Birdy cũng không gây ngạc nhiên không ít. Người ta sẽ ngạc nhiên vì khả năng piano hết sức điêu luyện, vì giọng hát trong vắt như pha lê dễ vỡ và đầy nội cảm, vì đôi mắt điềm tĩnh phảng phất buồn – thật khó tìm ở một cô bé tuổi còn teen; và ở chính âm nhạc của Birdy, nơi khái niệm “thời thượng” hoàn toàn vô nghĩa, thay vào đó chất indie phiêu du cổ điển. Tài năng và bất chấp xu hướng, Birdy luôn khơi gợi cảm giác đang nhìn thấy một Adele nhỏ; bản thân cô cũng thừa nhận Adele là thần tượng và nguồn cảm hứng của mình.

 Birdy 2

  1. Trả lại ngày nắng cho xứ sương mù

Showbiz UK vốn tự hào là nơi khai sinh nhiều xu hướng âm nhạc của thế giới, từ những biểu tượng tài năng như The Beatles, Elton John; các nhóm nhạc nổi tiếng U2, Coldplay; đến các trend có hơi hướng thương mại hơn boyband, girlband… Thế mà hiện tại, UKbiz lại đang ảm đạm hơn bao giờ hết. Không phải vì thiếu tài năng – thực tế thị trường UK thường được đánh giá là “thuần khiết” hơn US vì các nghệ sĩ nghiêm túc hơn trong âm nhạc, ít trò lố/ scandal, ít những ngôi sao chẳng-biết-có-tài-gì thích chơi trội kiểu Rebecca Black hay Kim Kardarshian. Nhưng cũng chính vì thế, showbiz UK lại kém sôi động và khép kín dần. Trong một thời gian dài, không có thêm một nghệ sĩ UK mới nào “gây bão” trên thế giới, cho tới khi xuất hiện “thế hệ nữ nghệ sĩ tài năng”. Susan Boyle, sau đó là Leona Lewis, Lily Allen, Jessie J, Duffy và tài năng nhất Amy Winehouse. Thế như Lily Allen và Amy Winehouse đều vướng phải cái bẫy nổi tiếng, những rắc rối cá nhân triền miên; Susan Boyle và Leona Lewis sau khi nổi lên thành hiện tượng từ hai cuộc thi tài năng và album đầu tay đều đang có biểu hiện chững lại. Vậy UKbiz còn lại chiến binh nào? Adele. Và có lẽ tương lai sẽ là Birdy.

Birdy 12

Cũng giống như Adele, Birdy tạo cho người ta cảm giác “cô ấy sẽ làm nên chuyện”. Không cần biết Billboard đang bị thống trị bởi Lady Gaga hay Katy Perry, Birdy tìm về những ca khúc xưa cũ của những nghệ sĩ gấp đôi tuổi cô và “tiêu hóa” dễ dàng. Lấy piano là chất liệu chính, thêm rất ít tiếng trống và các nhạc cụ khác, Birdy tạo ra âm nhạc cho những cái tai muốn tìm về sự sâu lắng và thanh thản; Cô tự tách mình ra khỏi mainstream pop vốn sôi động và phần nhiều được tạo nên bởi máy móc, tách khỏi những sao teen biết cách gây chú ý và chiều chuộng thị hiếu như Justin Bieber, Miley Cyrus, Selena Gomez. Chưa tròn 15 tuổi đã bắt tay vào album thứ hai với toàn bộ bài hát cộp mác Birdy; những gì Birdy đạt được ở thời điểm hiện tại vẫn còn rất ít so với những nghệ sĩ cô được so sánh, và nhất là so với tiềm năng của cô bé. Nhưng có sao, Birdy mới 14 tuổi. Chẳng có lý do gì lại không hy vọng tài năng ấy sẽ trưởng thành như Adele, và có ngày mang nắng trả về cho xứ sương mù

Birdy - Shelter MV

Fun facts

Nghệ danh: Birdy

Tên thật: Jasmine van den Borgaerde

Sinh ngày 15/5/1996 tại Anh

– Tập piano từ 5 tuổi và bắt đầu sáng tác năm lên 7

– Birdy theo học tại Priestlands School, một trường trung học tập trung vào nghệ thuật và âm nhạc; tuy được coi là một tài năng âm nhạc, cô bé thừa nhận mình không hề giỏi hơn các bạn ở trường, bởi các lý thuyết âm nhạc quá rắc rối lằng nhằng, mà Birdy thì chỉ thích tự do sáng tác thôi.

– Mọi người từng tiếp xúc nhận xét Birdy là một cô bé trầm tĩnh và rất khiêm tốn; có lẽ tính cách đó đã tạo nên một phong cách âm nhạc trong trẻo và sâu lắng, trưởng thành hơn nhiều so với độ tuổi của Birdy.

Dạ Ly

Mad Men and the bite on Steve’s apple

***Spoiler Alert***

David Ogilvy, Leo Burnett, Young and Rubicam are a few of many names that ring a bell in the mind of anyone interested, or actually working in the ad world. This makes the idea of bringing viewers back to 1960s, when advertising was at its heyday, and these Ogilvy and Burnett were real people sitting in a magnificent corner of their own agency, with an actual name card on the door, all the more appealing. Thanks to the wizard hand of Matthew Weiner, we have had Mad Men as one of the most exquisite TV masterpieces of all time, as well as an incredibly truthful and solicitous insight into the chaotic world of mental genius “mad” men and women.

download

Mad Men centers around Don Draper, an iconic figure that represents every good and evil aspect of an ad man that decade: middle-aged, fairly rich and obviously very attractive; he’s a womanizer under the polished cover of a loving married man, with a gentle yet sexist attitude towards women; he’s the creative mastermind of Sterling Cooper (then Sterling Cooper Draper Price) agency where he works, plus the gem of the business. In a word, he’s everyone’s glamorous dream. Nonetheless Don’s a miserable man, a vulnerable soul that keeps shattering over the course of the show, because as any talented creative mind, nothing is big enough to cover his enormous ego. Accordingly he’s in a constant need for something else out of his reach. But Don isn’t the only one worth seeing on Mad Men. It also tells the story of a whole lot of other remarkably well written characters, including Peggy Olson, Pete Campbell, Joan Harris, Roger Sterling, Betty Francis, Megan Draper, to name a few. All are complicated bipolar personalities with pretty much unpredictable deeds, on top of dark sides that they are no good at, or not even concerned about, hiding, and, this quality they do have in common, a deep thirst for something they cannot truly own, some kind of happiness that seems presented elsewhere beyond their very own existence.

 

Don’s life tells it all. He made a decision to bury his shady past life and to chase the life he wants for himself, yet every now and then the ghost of the past would come back to haunt him; and when it does, it ruins every piece of the seemingly perfect shining life he’s tried to build up. Still Don isn’t happy with whatever he has. In season 1, we first met him sitting alone in a restaurant, trying to ask the black waiter questions about the cigarette brand he was smoking. Don was seeking inspirations for his new campaign with Lucky Strike, Sterling Cooper’s most important client (which he later landed Lucky Strike’s legendary tagline “It’s toasted.” – it just blew my mind when I found out the tagline and the campaign was real); then we knew he was having an affair with a sexy spontaneous artist called Midge, while at the same time was playing the flirting game with a beautiful Jewish client, Rachel. We would be like, OK, that’s normal for an attractive single man working in the creative field. But wait. By the end of the pilot episode, he, after all the hooking up and flirting, eventually drove home to a country house outside of dazzling New York, there waiting for him a woman sleeping in the bed. Then for the first time we found out Don had a wife and two kids, and a place called home. Don, what the hell are you doing?

madmen0307141280jpg-0a4e6b_1280w

While we may hate Don for that, he is not entirely at fault in this: his flawless wife Betty Draper has a dark side too. Though Don’s professional performance seems to compensate for his falling apart at home. Over the course of his two marriages on screen, it always feels like Don faces the hard act to keep balance between his life and his work. When he’s best at his job, he appears to just be escaping away from reality at home. When he is happy with his second marriage, Don passes the buck onto his right hand, Peggy Olson, and he sees nothing else but his new wife Megan. Then it falls apart again, and he finds relief in work, again. I just figure that Don Draper is somewhat the opposite of AMC’s Breaking Bad’s protagonist Walter White. They’re both ruthless and extremely good at what they’re supposed to be good at; but Walter White, until the very last bit of his epic criminal journey, stays the family man that could kill people without blinking his eyes all for the sake of his family, while Don is a well-mannered and kind man at heart, yet he is so unwillingly good at hurting the ones he loves. But well, in the end Walter White hurts his family, too. And you know why? Because they both have so big egos that overshadow everything else, without them even recognizing that. They just unconsciously prefer themselves to other people, and they have a very clear idea of how they want people to be. When they don’t get it, they flip out. That’s the root of the tragedy happens to their lives.

It would be unfair to talk about Don without mentioning Peggy. She is the extension of his, as much as he is the extension of hers. They reflect each other in a kind of relationship that’s hard to put a label on – mentor/mentee, boss/employee, friends, or whatever you may want to call; in everyone’s eyes, Peggy is definitely Don’s favorite, though that’s possibly not how she could feel through the arrogant and bossy manner Don behaves around her. But what’s noteworthy about Don/Peggy relationship is that it’s completely platonic. Peggy started off as Don’s secretary, a post that before her, no girl could last long for a mysterious reason (which is hinted and rumored that Don slept with them all). So on her first day at Sterling Cooper, innocent Peggy was told to believe that it’s a must for her to seduce her boss. She awkwardly tried to hit on Don by touching his hand when they were alone; but Don, out of her expectation, drew a line “I’m your boss. Not your boyfriend” and suggested she could start fresh the next day. Unlike any previous experience he had with secretaries (or maybe not exaggerating to say, with women), Don never sees Peggy as sexual. He saw her very differently in the first place, which weirdly upsets Peggy sometimes, but maybe that’s why their relationship last longer and survived all the hardships they went through together. (The irony in Don’s life is that the women he could keep close by his side are the ones he never has sexual feelings for, like Anna Draper, Peggy, and surprisingly, the extra-stimulatingly beautiful Joan Harris). Don sees the younger himself in Peggy, as much as she sees her dream future in what he has achieved. They’re not close friends, not even close enough for Don to know about Peggy’s romantic life (his romantic life is public though), but he was the only one there for her when she gave birth to her secret baby (totally out of the blue, and out of anyone’s, including Peggy herself, expectation). “This never happened. You will be shocked how it never happened.” Don gave Peggy the advice he gave himself years ago, that sometimes in life we have to make the hard choice to leave things behind, and to pick the life as we want it to be.

mad-men-Falling-Man

Oh Don! He can be the stone-faced devil that screws a secretary and acts like nothing happens the next day, for he actually thinks that incident was no more than a blurry night of two people finding relief in sex, just kind of spur-of-the-moment action. He can be the straight-up man who immediately spits at the idea of letting a woman sleep with the client so that the agency could land the big account. He then storms out of the room, and afterwards even tries to reach the woman in her home to make clear he doesn’t want her to accept the offer. He can be the pompous boss who takes credit for all the work of his protégé, at one time literally throws money at her face; other time he turns into the gentleman who kisses her hand begging her to stay with him in the agency, or takes the length to go to her home, apologizing “If you say no, I’ll spend the rest of my life trying to hire you.” He’s a good provider but a terrible husband. He’s a genius player, but a desperate and pathetic lover. Like anyone on that show, Don is “mad”. He’s mad about his job. He’s mad about love. He’s mad at himself. And they’re all the same. All those people in that agency, all adorably and endearingly messed-up minds, have together painted the most vibrant and exciting picture of an unforgettable era in advertising.

2307391808786737089TW9SyH9c

Not a single main character on Mad Men is fully satisfied or happy with their life (honestly, who is anyway!). They are never settled with compromised happiness. They seem to always reach out to something out there, like an itch that’s never enough scratched. But the more they scratch it, the more it hurts. Worse off, they never notice that until it starts to bleed. This leads my thinking a creative icon of our time, Apple. Apple’s logo has long been the source of controversy over the bite on the apple. What was Steve Jobs thinking adding a bite? It stirs the feeling of something unfinished. Always hungry. Always looking. Always be the innocent lonely soul that searches for peace, which is impossible; because the soul is a storm in itself.

images

But isn’t it what creativity all about?

When you reach out for the stars, you may not get one, but you won’t get a handful of mud either.

_Leo Burnett_

we-love-advertising

Dạ Ly

Trường học và những kí ức 1-0-2

Khi họp phụ huynh về, mẹ tôi đã rất nhiều lần nhận được nhận xét về con gái như thế này “Sao con bé cứ nhìn ra cửa sổ cười một mình thế?”. Tôi đặc biệt thích câu nhận xét ấy. Nó tinh tế, đầy quan tâm, và hoàn toàn đúng.

 

Chỗ ngồi tôi thích nhất hồi đi học là bên cạnh một cái cửa sổ. Tôi dành phần lớn thời gian trong lớp để phóng tầm mắt ra bên ngoài (thời gian còn lại để nhìn âu yếm cái đồng hồ), ngắm nghía một cái tháp màu trắng ở gần đó, mấy ngói nhà lợp tôn đỏ, và khoảng đất trống mới quy hoạch còn ngút ngát màu cỏ xanh chạy dài xa thật là xa, chạm tới đường chân trời; tôi tự hỏi mình còn nhìn những cảnh này đến bao giờ? Tôi muốn bay ra ngoài đó. Tôi muốn thế giới bên ngoài lớp học này.

 

Nói thế thôi. Khi năm học cuối cùng kết thúc, lần đầu tiên tôi bắt đầu sợ hãi với ý nghĩ 17 năm hóa ra là một quãng thật ngắn trong cuộc đời. Lớp học này, trường học này, những đứa bạn nhí nhố mà tôi vừa yêu vừa ghét kia, đã luôn là cả thế giới đối với tôi – một thế giới hỗn loạn, nhưng vẫn thật yên bình theo cách rất riêng của nó. Có lẽ đó là lý do khiến chúng ta thật buồn khi kết thúc năm cuối cấp: không hẳn vì không thể gặp nhau nữa, mà là vì sẽ không gặp nhau trong lớp học này, cùng lo lắng những nỗi lo này, cũng hâm cùng dở. Và rồi, không thể tiếp tục là tất cả thế giới của nhau.

 

***

truong_hoc_102__1409793451640
Bìa sách Trường học 1-0-2 Minh họa trong sách yêu không thể tả!

 

Trường học 102 hóa ra lại kể về một ngôi trường không hề có một không hai – nó chính là mọi ngôi trường trung học chúng ta biết, với những giáo viên đáng yêu hoặc đáng sợ, những giáo sư gây mê chưa được chính thức cấp bằng, những đứa bạn ngầu ơi là ngầu yêu ơi là yêu, nhưng đứa nào cũng đáng đưa đi gặp bác sĩ tâm thần một lúc nào đó. Bạn thấy quen không? Chính là lớp học của mình chứ đâu nữa. Với óc hài hước rất cá tính, khả năng viết khoáng đạt và một tâm hồn luôn trẻ (tôi nghĩ do môi trường báo 2!), Khánh Linh tái hiện vô cùng sinh động trong cuốn sách mới nhất của mình những ngày tháng học trò “hào hùng”, tràn ngập chiến tích xen lẫn những phiền muộn băn khoăn của tuổi. Đi theo lời kể của nhân vật chính cùng hai cô bạn thân Anh Thy và Mai Phương, Trường học 102 rất giống một bức tường graffiti nghệ thuật; tác giả vẽ lên nó bằng những câu chuyện nhỏ, lồng trong một câu chuyện lớn hơn, rồi chấm phá thêm góc nhìn độc đáo và sắc nét của mình. Ta sẽ nghiến ngấu đọc, không chán một chút nào – cảm giác hệt như lục tung đống đồ cũ ra và tìm lại được cuốn nhật kí của mình thuở ấy. Chao, cứ như tìm thấy lại cả một khoảng trời.

 

Điểm sáng nhất của Trường học 102 là khả năng liên tưởng và so sánh cực kì sinh động của tác giả. Trong một câu chuyện về vụ cháy trong phòng thí nghiệm, lũ học trò đã phản ứng thế này

“Cả lớp trở thành những thần dân của bộ lạc, vui thú bên ánh lửa và múa vũ điệu loi choi kèm hú hét vô nghĩa. Còn đây là cô giáo – phù thủy của bộ lạc, người có niềm tin vững chắc rằng mình có thể hô phong hoán vũ, gọi gió đến dập lửa.”

Chà, cứ như tác giả đã lẻn vào lớp tôi mà ghi lại câu chuyện trên vậy. Tôi nhớ trong một buổi thí nghiệm Hóa nào đó, cồn đã dính vào áo khoác của con Phì lớp tôi, và áo cháy phừng phừng. Phì (biệt danh của nó thôi) chạy khắp lớp, giữa tiếng hú hét sợ hãi thì ít, mà phấn khích thì nhiều của tụi thổ dân cùng lớp. Phì cười như nắc nẻ, và tất cả chúng tôi đều khoái chí khi một chuyện hay ho hiếm gặp như vậy xảy ra, trong khi cô giáo tái mét. Cái áo được dập cháy ngay sau đó (không ai nhớ vì sao), để lại một lỗ thúng to đùng trên áo khoác đồng phục của Phì. Hẳn nhiên nó không mặc áo đó đi học được nữa, nhưng chúng tôi sẵn sàng treo áo lên trước cửa lớp như một cách vinh danh nó và dọa nạt lớp bên.

 

Bạn sẽ gặp thêm nhiều câu chuyện hay ho và cười ra nước mắt trong Trường học 102, để rồi thấy mình giờ đây, chỉ sau có vài năm thôi, mà đã lớn lên bao nhiêu, bớt điên rồ bao nhiêu, và chẳng bao giờ còn vô tư như hồi ấy được nữa. Mà thật ra, “hồi ấy” mình cũng đâu có hoàn toàn vô tư. Trong Trường học 102, tác giả tập trung vào một mặt của tuổi học trò: những trò nghịch ngợm, những mối tình học trò chỉ dừng ở mức rung rinh, và lớp học thì đoàn kết và yêu mến nhau, gần như không có một chút ác ý gì. Nhưng kí ức của tôi về trường trung học pha trộn giữa vui và buồn, giữa cảm mến và ghét bỏ, giữa sự ấm áp gắn bó xen kẽ những lúc tủi thân và cô độc. Tình cảm tuổi mới lớn mong manh, và nó luôn mấp mé bên một lằn ranh giữa sự vô lo học trò, với những cái tôi đang lớn muốn bộc phát và có phần ích kỉ. Chúng ta có nhiều kỉ niệm vui động trời, nhưng hẳn cũng đã có lúc ghét nhau ghê lắm; cơ thể chúng ta đang lớn nhanh và ta nghĩ nhiều đến những chuyện đen tối (lẽ tự nhiên thôi!). Chúng ta quan tâm đến nhau thật nhiều, nhưng chúng ta vẫn vô tâm lắm chứ, vì đó là một phần của tuổi trẻ nhiều nông nổi. Trường trung học có những mảng tối và sáng; nhưng khi nó qua đi, ta vẫn thấy nhớ vô cùng. Thường chỉ có những mảng sáng đọng lại. Tôi nghĩ, có lẽ vì ta luôn chọn kí ức đẹp để ghi nhớ.

 

***

 

Trong một ngày năm lớp 12, cô giáo chủ nhiệm nửa đùa nửa mắng tôi “Sao em lại cho chân lên ghế ngồi thoải mái trong lớp vậy? Lớp học là nhà à?”. Tôi trả lời cô “Vâng, thì nó đúng là nhà mà.” Đứa bạn ngồi cạnh quay sang ôm chầm lấy tôi.

Phải rồi, nó đúng là nhà.

Nó là cái nhà đã ôm ấp che chở ta suốt những tháng ngày non nớt và dễ tổn thương nhất. Nó là nơi ta dường như dành nhiều thời gian hơn cả ngôi nhà thật của mình, và thật tình ta gặp bạn bè còn nhiều hơn gặp bố mẹ. Mọi niềm vui, nỗi buồn, những kỉ niệm đẹp hay kí ức buồn đau, tất cả xảy ra trong ngôi trường này đã cùng tạc nên nhân cách của chúng ta sau này. Bởi thế, một cuốn sách như Trường học 102 thật đáng quý. Không phải vì ngôi trường tác giả kể lại có một không hai, mà chính vì nó là một ngôi trường như bao ngôi trường khác – chúng ta thấy thật dễ đồng cảm. Mọi ngôi trường dường như thật giống nhau, nhưng kí ức của chúng ta là duy nhất. Kí ức 102 – chính kí ức tạo nên điều khác biệt của thời áo trắng.

 

Một cuốn sách hay sẽ khiến người ta gật gù tán thưởng. Nhưng với Trường học 102, tôi nghĩ tác giả làm được nhiều hơn thế. Bạn sẽ phải nhấc điện thoại gọi cho đứa bạn lâu năm không nói chuyện. Bạn sẽ ngồi stalk facebook một loạt tụi bạn cấp 2, cấp 3 xem giờ chúng nó đang ở đâu rồi. Và có thể, bạn còn mở máy tính lên, với ý định to lớn vô cùng « Chà, mình cũng có đầy những kỉ niệm hay ho, đáng để viết thành sách lắm chứ ! ».

Biển treo trước trại lớp. Giờ nhìn lại thấy xấu xấu chớ hồi đó cũng hì hụi làm, tự hào ghê lắm!
Biển treo trước trại lớp. Giờ nhìn lại thấy xấu xấu chớ hồi đó cũng hì hụi làm, tự hào ghê lắm!

Dạ Ly