Di sản của Glee

Cuối cùng thì Glee cũng kết thúc. Dẫu cho nhiều Gleek trung thành vẫn than khóc rằng họ buồn nhớ Glee, ai cũng ngầm hiểu (và thực sự cảm thấy) Glee đã đến lúc dừng lại. Mọi người đều khóc trong lễ tốt nghiệp cấp ba, nhưng đâu có ai muốn ở lại lớp. Glee cũng đem lại cảm giác hệt như cấp ba của bạn: bạn từng thích nó đến phát điên, từng chán ghét, từng giận dữ vì những plot twist dở hơi của biên kịch… Rồi bạn buồn, nhưng nhẹ nhõm vì tất cả cuối cùng cũng kết thúc.

Để đi đến cuối chặng đường của 6 mùa chiếu, Glee đã trải nhiều thăng trầm, từ lúc được tung hô hết lời và nhà đài sủng ái, tới khi bị ghẻ lạnh và coi thường. Tuy vậy, bỏ qua những đi xuống thấy rõ về kịch bản và cả âm nhạc, Glee thực sự đã chứng minh vai trò xã hội rất quan trọng của mình và để lại một di sản mà hiếm show musical nào từng làm được.

  1. Klaine, Brittana và làn sóng LGBT

Klaine và Brittana quá đẹp, quá hoàn hảo. Cũng chẳng phải là nói quá khi coi họ như một “của để dành” của Glee. Có lẽ ảnh hưởng của bộ phim đến cái nhìn của cộng đồng về người đồng tính và hôn nhân đồng tính là di sản quan trọng nhất của Glee. Tất nhiên Glee không phải show đầu tiên đề cập đến vấn đề này: từ những năm 90 sitcom Will & Grace với hai nhân vật chính là Grace và Will – bạn thân đồng tính của cô – đã khá nổi; chưa kể đến ông vua sitcom Friends cũng đã ưu ái một cảnh đám cưới của cặp đồng tính nữ Carol-Susan ngay từ season 2. Tuy vậy, Glee có thể coi là tiên phong khi mang vấn đề đồng tính vị thành niên và kì thị đồng tính trong học đường một cách trực diện nhất. Glee đã giúp đỡ cộng đồng LGBT tới mức nào thì khó có thể đánh giá, nhưng chỉ riêng việc xây dựng thành công hai cặp đôi đồng tính Klaine và Brittana, biến họ thành những cặp được yêu thích nhất (hơn cả cặp đôi chính Finchel) cho thấy Glee đã đạp đổ bức tường định kiến về tình yêu đồng tính; cũng có thể là những khán giả của Glee (thường là teens và người trẻ) đang có quan điểm rất thoải mái về LGBT. Dù trường hợp nào thì cũng là tín hiệu tốt cho làn sóng đấu tranh của LGBT.

glee32glee-wedding-1-1024

  1. Sự trỗi dậy của “Những người vô hình”

Glee hay nhất lúc nào? Phần 1. Và có thể là phần 6 nữa, nếu bạn chịu khó xem phần này. Dường như chỉ ở hai phần này chúng ta mới bắt gặp một hình ảnh rất Glee: những kẻ vô hình, bị cho là yếu thế thua cuộc ở trường trung học đấu tranh để khẳng định tài năng và giành lấy vinh quang cho mình. Glee đã cho thấy một thế giới học đường Mỹ phức tạp, phân chia đẳng cấp rõ rệt; nhưng nó cũng rất công bằng: một khi bạn giành được chiến thắng, mọi người sẽ đối xử với bạn như một người thắng cuộc. Glee đã giải quyết mâu thuẫn trường học không phải bằng việc cào bằng các cá tính trong trường, mà bằng việc để các cá tính tự cạnh tranh và khẳng định mình. Nếu bạn là kẻ thua cuộc, đừng mong đợi trường học thay đổi, mà hãy tự thay đổi mình đã.

Glee-cast-02

  1. Những bản mash-up, cover và remix kinh điển

Đã từng có một thời những bản cover của Glee công phá Billboard. Đã từng có một thời Glee concert cháy vé. Một thời mà nếu bạn lang thang trên Youtube vào những MV bài hát gốc vừa được Glee cover, chắc chắn sẽ có dòng comment “Glee brought me here.” Và đừng quên, Glee đã cover We are young của Fun. từ trước khi nó nổi tiếng, để rồi giành giải Grammy năm đó. Glee không những có công mang âm nhạc Broadway và những nghệ sĩ từ những thập niên trước gần gũi với giới trẻ, nó còn tạo ra những bản phối mới mẻ, làm sống dậy nhiều bản nhạc tưởng đã chết; và tất nhiên, không thể thiếu được một thứ có thể coi là đặc sản của Glee: những bản mash-up (trộn bài). Glee đã có những trộn bài tốt tới mức đôi khi người ta không nghĩ đó là hai bài ghép lại. Đừng nói bạn chưa từng replay liên tục một bản cover nào mang mác Glee đấy!

  1. Tinh thần Don’t stop believing

Các Gleek đều ám ảnh bởi bài hát này. Nó được coi là chủ đề xuyên suốt cả bộ phim, là một vùng kí ức để nhớ về mỗi khi nhắc tới Glee. Nó là bài hát đã vực dậy những nhân vật trong phim, và có lẽ cũng vực dậy nhiều Gleek. Nếu bạn hỏi bất cứ một fan nào về bài hát đáng nhớ nhất trong phim, 99% họ sẽ trả lời “Don’t stop believing”. Đối với Glee, từ lâu nó đã có sức sống lớn hơn một bài hát rất nhiều.

Sáu năm. Sáu phần phim. Một dàn nhân vật đông đảo với tính cách (và giới tính) đa dạng. Hơn 100 bản cover. Rất nhiều vấn đề khó nhằn đã được Glee chạm tới và giải quyết: đồng tính, bạo lực học đường, bắt nạt trên mạng xã hội, hội chứng Down, khuyết tật, chứng biếng ăn, chuyển giới, chứng khó đọc, nhắn tin khi lái xe, tự tử, súng trong trường học… và vấn đề quan trọng nhất trong Glee: theo đuổi ước mơ của mình. Có thể Glee đã không đi một con đường bằng phẳng, nhưng bộ phim cũng đi đến được cuối con đường, và chắc chắn đã để lại ấn tượng rất khó phai.

Cảm ơn Glee, vì sáu năm tuyệt vời.  

Advertisements

[Da Ly’s list] Glee’s most iconic performances

I was a big fan of Glee (or should I say, Gleek. See, the show was so hot they even had a name its fanbase!), and have always been. Though the story lines have been pretty much messed up, it would be really unfair if we did not recognize Glee as one TV show that did have a huge impact of social view on school bullying and LGBT. I somehow feel that the recent support wave for legalizing LGBT marriage could be attributed a little to Glee. Anyway, the real charm of Glee lies in its music. And here are the list of performances that I think are very typically Glee. They may not be the best, but are what remind me of this show that once was a big part of my life.

This list is in no particular order.

1. Journey’s Don’t stop believing 

Nothing can’t beat this song out of Glee, OK?

Glee has covered Don’t stop believing for, God I really can’t remember. It has become the show’s most iconic song and spirit. I can’t decide which version is the best, but to me the moment Rachel and FInn first melt their voices together is unforgettable.

2. Say a little prayer

The Unholy Trinity is legendary! Each and every of their performances is a bomb of sexiness and awesomeness. Here’s just the first lesson of how to be megastars at highschool.

The first time seeing this, I was like “Wait these girls can sing? Oh shit they’re fan-fucking-tastic! I’m totally hypnotized!”

3. Born this way

In the same episode to tribute Lady Gaga, Bad Romance could have been the most impressive (all those props, who can look the other way really!), but this song is very Glee. Everyone was wearing a shirt saying something they don’t like about themselves singing “I was born this way”, and I think it’s a very creative idea. Ryan Murphy and his writers were THAT good. (I’m again in love with Glee in season 6 though)

4. Girls just wanna have fun

I cried to this performance. I’ve searched covers of this song, and none have left me such feeling. After Cory’s death, I played this song a thousand times.

Rest in peace, Cory.

5. Faithfully

Remember when Emma mocked Will about how he always arranged his numbers in the same way: First, Finn and Rachel sing a ballad, then the whole team sing upbeat songs. Well, Will had a reason to do that: Finn and Rachel rule every duet they’ve ever done together.

Like this one. It’s too beautiful. Just too beautiful.

And need I say, it was the first time Finn ever said “I love you” to Rachel?

6. Cold hearted 

Oh Santana, could you be any hotter?

I sense that Naya was so hot she made girls question their sexuality, so they decided to turn her lesbian.

Just kidding. Of course Brittana is one of the best things ever happened on Glee.

But this performance… God… Did you notice Brody had to sit down towards the end of it? He certainly could not resist something to misbehave.

7. It’s all coming back to me now

I.Am.Speechless.

This is how eargasm feels like.

8. Teenage Dream

Be Kurt and tell me how you do not fall in love with this guy Blaine.

Oh seriously, every straight girl and gay guy would fall.

The acoustic version where Blaine sings to Kurt before their first break-up is great, too, but I decide to go for something light-hearted.

9. Glad you came

I can’t believe I feel turned on when a bunch of supposedly gay guys wearing private school uniform blazer sing this song.

But I just did.

This is the Warbler I like: very bitchy, very upbeat, very seductive, very … well, Sebastian.

10. Rumor has it/Someone like you

Remember back when this was out, and the mash-up broke the Internet.

The list would make no sense not including this performance of the girls.

11.  Fly/I believe I can fly

OK even I’m not sure Blaine rapping is a good idea but… this mash-up makes the two songs sound so obvious. I’d never listened to Nicki Minaj before and after this I thought “Maybe I’ll give her music a try.” (I did. And it is forever “a try” lolz)

12. To Sir with love

This song shows that even though today they often complain that kids do not respect their teachers, the whole point is that you could always be that teacher all kids love, as long as you really care for them. Kids always need someone to guide them, no matter what they say.

13. We are young

I believe this performance brought “We are young” to light!

I still wish there would be a day I could sing this with a group of friends. It’s so inspiring.

“Tonight

we are young

so let’s set the world on fire

So if by the time the bar closes

and you feel like going down

I’ll carry you home

tonight.”

14. Take me to Church 

I actually enjoy season 6. I would place it right next to season 1. The new members are adorable, and this song…

Oh come on, I would never leave out Take me to church for any reason. I do think that the mixture of choir voices brings more to the song. Of course no one can beat Hozier, but the last verse when Jane starts to sing “Take me to church” in high note, that’s exactly what’s been missing from the original version.

Rihanna và ngã tư đường

Bài viết đã đăng trên báo 2! Người Trẻ Việt từ năm 2012.

Rihanna nhuộm tóc đỏ. Rihanna xinh đẹp tươi tắn. Rihanna hot trên mọi bảng xếp hạng với hàng hoạt hit suốt hai năm qua. Tưởng như cái bóng quá khứ đã không còn, nhưng We found love lại nói lên điều ngược lại…

 

  1. Rihanna = Âm nhạc + Robyn Fenty

“We found love in a hopeless place”

Trong một ngày, bỗng Facebook của tôi tràn ngập link chia sẻ clip mới nhất We found love của Rihanna. Ngoài California King bed gần như là bản ballad duy nhất của Riri thời “hậu Chris Brown”, tôi không thích thú lắm sự sexy quá đà của cô nàng trong mấy single gần đây Rude boy, S&M, Man down… Thế nhưng, sexy và nóng bỏng không kém, We found love lại cho một định nghĩa khác hẳn về Riri.

Calvin Harris – người tự nhận là đấng sáng tạo ra disco –  là một nhà sản xuất mát tay khỏi bàn cãi; We found love có cái chất “điên loạn” và mang lại cảm giác mong manh, bất ổn lạ lùng. Cứ tưởng Rihanna đã đi qua rồi cái thời u ám (và tự làm xấu mình nữa!) Russian Roulette/Rated R; nhưng  với We found love, người ta vẫn thấy một Riri dễ tổn thương, và lại còn anh bạn trai “quen quen” nữa chứ. Xem xong We found love tất cả đều giật mình – anh chàng diễn viên Dudley O’Shaughnessy này có ngoại hình quá giống kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-Chris-Brown.

Rihanna Chris Brown

Nhìn lại sự nghiệp của Rihanna, đặc biệt là sau sự kiện năm 2009, người ta bắt đầu nhìn ra một đặc điểm: âm nhạc của cô ấy luôn phản ánh chính xác những gì đang xảy ra xung quanh. Khi Rihanna đối mặt với cú sốc bị bạn trai bạo hành – thì có ngay Russian Roulete, một ca khúc còn hơn cả u ám. “Thời đại Rated R” là từ được báo chí dùng để chỉ suốt một quãng thời gian dài Riri gần như tự tay đập tan nát hình ảnh cô gái xinh đẹp thuở đầu, thay vào đó là tóc cắt ngắn, thời trang có hơi hướng Gaga hóa, MV bạo lực, âm nhạc hoặc đau buồn và ám ảnh, hoặc sẽ sexy đến mức phải dán nhãn 18+ như Rude boy. Rihanna vẫn thường xuyên ra single và vẫn giành No.1, nhưng người ta phải đặt dấu hỏi “Chuyện gì đã xảy ra vậy? Cô ấy hoàn toàn suy sụp rồi”. Hơn một năm trôi qua, Rihanna thời album Loud bắt đầu hẹn hò trở lại, vui nhộn (và tất nhiên, xinh trở lại) trong Only girl (in the world), Cheers (Drink to that). Cùng lúc đó, người ta thấy sự chuyển biến rõ ràng trong mối quan hệ với Chris Brown: hai người follow nhau trên twitter, Rihanna rút đơn khỏi tòa án và chúc phúc cho anh chàng trong bài phỏng vấn với tạp chí Esquire. Thế mà, tại sao Rihanna lại chọn đúng thời điểm mà quả bóng gần như đã xẹp xuống để tung ra một MV nhạy cảm như We found love? Dường như tất cả những gì thể hiện trong MV đều để nhắc nhớ đến tình cũ Brown: một hai phút đầu còn bên nhau hạnh phúc, sau đó bắt đầu cãi vã, chất kích thích và bạo lực. Tiêu điểm của MV là hình ảnh xô xát trong ôtô quá đặc trưng cho câu chuyện bạo hành của cặp đôi nổi tiếng này.

we found love 3 We found love car scene We found love video

Bởi vì bất cứ ai gần gũi Rihanna đều biết cá tính của cô gái này – Riri vốn vui vẻ, thậm chí là vô tâm; thứ khiến cô ấy quan tâm nhiều hơn là công việc chứ không phải chuyện tình cảm của những người xung quanh. Riri cũng rất ngang bướng và không hề dễ gục ngã. Thế nhưng, một lưu ý nhỏ, Riri đã lớn lên trong tuổi thơ không mấy vui vẻ, gia đình khá phức tạp và từng chứng kiến cảnh bạo hành. Vì thế, cho dù Rihanna (thường xuyên tỏ ra) mạnh mẽ đi chăng nữa, hành động của Chris Brown vẫn chẳng khác nào giật phăng mất lá chắn cuối cùng của cô ấy. Với cả thế giới, Rihanna là Rihanna; nhưng với thế giới riêng tư, Rihanna vẫn chỉ là cô gái Barbados mang tên Robyn Fenty mà thôi. Khác ở chỗ, thay vì viết note Facebook như các cô gái bình thường, Fenty có thể truyền tải hết nỗi thất vọng và sợ hãi vào âm nhạc. Người ta cứ nói các hit của Riri hoàn toàn do người khác sáng tác, và dính dáng đến Chris Brown chỉ là chiêu câu kéo khách; nhưng không thể phủ nhận các bài hit của Rihanna thực sự rất tâm trạng; đổi lại, qua từng biến cố, âm nhạc của cô ấy liên tục thay đổi và chỉ làm cái tên Rihanna thêm hot mà thôi.

Rihanna familyRihanna young

  1. Rihanna – lựa chọn “kiểu J.Lo” hay “kiểu Beyonce”?

Rihanna có phải là một nghệ sĩ thành công không? Hiếm ai lắc đầu. Bán được hơn 20 triệu album và hơn 60 triệu singles, vượt mặt Mariah Carey ở số lượng No.1 Billboard; bản thân single đang nóng bỏng tay We found love cũng không hề được đầu tư nghiêm túc vào quá trình PR – chỉ được thông báo qua vài câu trả lời phỏng vấn ngắn gọn và các dòng tweet – thế mà nó (cũng như các MV khác của Riri) vẫn nhanh chóng có hàng triệu lượt view trên Youtube, bài phê bình và phân tích về MV thì xuất hiện dày đặc trên mạng – đủ thấy sức nóng của cái nên Rihanna. Người ta bắt đầu so sánh sức hút của của cô giống hệt như các diva và đàn chị đi trước như Madonna, Beyonce hay Britney từng làm được. Khoan đã! Vấn đề của Rihanna chính là ở chỗ này – những thành công của Riri đã đủ để đặt tên cô ấy bên cạnh chữ “diva” chưa?

Rihanna Russian time rihanna supershort hair

Hóa ra showbiz càng hiện đại thì việc đánh giá thành công của một ngôi sao càng không dễ. Thời Madonna hay Mariah Carey, thậm chí cả với Britney Spears và Beyonce, thành công là No.1 Billboard, lên sóng MTV, lên báo Rolling Stones và một vài tạp chí âm nhạc nổi tiếng. Ở thời đại này, “nổi tiếng” dễ dàng hơn rất nhiều – một anh chàng vô danh cover lại một bài hit cũng có thể đạt lượng view như các ngôi sao; No.1 không còn đáng giá như xưa nữa, bởi lẽ đã từ lâu, Billboard, thay vì giới thiệu những sản phẩm âm nhạc đúng nghĩa, đã khiến người nghe bội thực với các thể loại hit-một-mùa dance/pop. Top40 trước giờ luôn xuất hiện những ca khúc hot nhất (cover các ca khúc thuộc top40 chính là cách hút khách truyền thống của phim truyền hình Glee!) với những cái tên Lady Gaga, Katy Perry, Bruno Mars, Justin Bieber, tất nhiên cả Rihanna nữa. Thế nhưng, buồn thay, đã từ lâu khán giả Mỹ thờ ơ với top40; họ muốn tìm về âm nhạc thuần khiết của nhiều thập niên trước đó, cái thời mà autotune, sex và tiệc tùng say xỉn không phải là thứ mà các nghệ sĩ thích hát và ca tụng. Rihanna đang là một trong những thủy thủ dẫn đầu của con thuyền showbiz đúng vào cái thập niên mà mọi làn sóng đều chìm xuống, tất cả đều được coi là “hot” nhưng nhạt nhòa và nhanh chóng bị quên lãng. Thế thì thành công của Rihanna có thể đánh giá thế nào đây?

Cái khó ở Rihanna là cô ấy không-có-mặt-nào-nổi-trội. Giọng hát khá, nhưng không hề xuất sắc. Cô ấy ít khi nhảy và chưa từng có được màn trình diễn ấn tượng tuyệt vời như Lady Gaga hay Britney Spears thời đỉnh cao. Và các ca khúc của Rihanna – có bài hay nhưng không xuất sắc; quan trọng là Riri cũng không tự sáng tác – cô ấy chỉ đơn giản là có một ekip hoàn hảo, luôn tạo ra những hit đỉnh. Rõ ràng, Rihanna không phải mẫu nghệ sĩ “phần nhìn bù phần nghe” như J.Lo; nhưng đặt bên cạnh một họa mi nước Mỹ Mariah Carey, hay Madonna/Britney với khả năng biểu diễn đỉnh của đỉnh và Beyonce sở hữu cả hai, Rihanna chỉ là tổng hòa của một khuôn mặt xinh xắn và những-cái-trung-bình. Cô ấy hot phần nhiều vì những single/album ra mắt liên tục, vì một kiểu đầu mới cắt hay nhuộm, và hình ảnh thì tràn ngập báo mạng… chứ không phải vì có sức hút đặc biệt.

Johnny Nunez

Tên tuổi của Rihanna ngày càng lên cao thì người ta càng kì vọng và muốn biết cô ấy có thể đi xa đến đâu; sắp tới, khán giả sẽ không còn hứng thú với câu chuyện Chris Brown nữa – họ sẽ chỉ chờ đợi một Rihanna-mới có thể làm được gì mà thôi. May thay, Rihanna còn trẻ và là người mà các tên tuổi khác như Eminem, Maroon 5, Jay Z muốn hợp tác và giúp đỡ. 10 hay 20 năm nữa, thứ còn lại trong trí nhớ không phải là số lượng No.1 Billboard, mà là âm nhạc và đẳng cấp. Đã đến lúc Rihanna đứng giữa ngã tư đường và phải chọn lựa mình muốn đi đến đâu – một nghệ sĩ giải trí để rồi bị lãng quên, hay là tự “nâng cấp” mình và trở thành diva thực sự.

Fun facts:

 

  • Bên cạnh MV, lyrics là thứ gây tranh cãi nhất trong We found love; các nhà phê bình đều nhăn mặt trước một lyrics quá đơn giản và gần như chỉ lặp đi lặp lại câu “We found love in a hopeless place”. Người ta còn thống kê được câu hát này chiếm tới 112/206 từ của lyrics, tức là khoảng 54% toàn bộ lời.
  • Thời gian đầu, A-Z lyrics (một trang web cung cấp lyrics lớn) còn không thèm đăng lyrics của We found love, thay vào đó là “Bạn có nghiêm túc không đấy? Cô ấy (Rihanna) chỉ hát “We found love in a hopeless place” thôi mà, những 45 lần hoặc đại loại thế. Ngốc ơi, đừng tìm kiếm lyrics trên mạng nữa”.

Dude, stop looking for lyrics online =)

  • Trong We found love, cư dân mạng còn được dịp soi… cỡ chân của Rihanna. Theo phân tích của các supersoi, nếu như một bồn tắm trung bình dài 1.5m thì tính theo tỉ lệ của ảnh, chân Rihanna phải dài tới… 30cm 0.o

Riri's giant feet

  • Trong quá trình quay We found love tại Belfast, Ireland, có một cảnh Rihanna chạy trên cánh đồng và… không mặc áo. Sau đó cô nàng còn có nhiều cảnh tình cảm với bạn diễn, nóng bỏng tới mức người chủ cánh đồng đó, bác Alan Graham 61 tuổi (vốn là người theo đạo Thiên chúa), đang chạy máy kéo qua và lập tức dừng lại, yêu cầu hai người… rời khỏi cánh đồng ngay lập tức, bất chấp cả đoàn có năn nỉ thế nào đi nữa.

we found love field

Dạ Ly

Tán chuyện về Oscar

Bài viết từ năm 2011-2012.

Nếu vào khoảng tháng Hai chúng ta tưng bừng đón Tết, thì ở Hollywood cũng đông vui như trảy hội. Đơn giản vì đó là khoảng thời gian bắt đầu cho hàng loạt các sự kiện và lễ trao giải điện ảnh, trong đó danh giá và được mong đợi nhất chắc chắn là Lễ trao giải Oscar. Nhân sự kiện đình đám này, cùng tán chuyện quanh giải thưởng này nhé!

1. Oscar, anh là ai??? 

Cho đến tận bây giờ, nhiều người vẫn cho rằng mỗi năm Hollywood có hai giải thưởng quan trọng: OscarGiải thưởng của Viện Hàn Lâm Nghệ thuật và Khoa học Mĩ; sự thật là, hai giải thưởng này chỉ là một. Nói cách khác, Oscar chỉ là nghệ danh nổi tiếng thay cho cụm từ Giải thưởng Viện Hàn Lâm quá nghiêm túc ( và tẻ nhạt!) mà thôi.

Giải thưởng Oscar và Viện hàn lâm chỉ là một
Giải thưởng Oscar và Viện hàn lâm chỉ là một

Vào một buổi tối năm 1927, những nhân vật quan trọng nhất Viện đã ngồi lại ăn tối với nhau tại phòng khiêu vũ Crystal, khách sạn Biltmore, Los Angeles. Bữa tối xoay quanh vấn đề : làm thế nào để vinh danh những đóng góp to lớn của các nghệ sĩ cho Nghệ thuật thứ Bảy? Sau khi nhất trí về một giải thưởng thường niên, nhóm người này lại tiếp tục suy nghĩ về một-cái-gì-đó thật đặc biệt tặng cho những ai lên nhận giải. Chỉ đạo nghệ thuật của MGM bấy giờ, Cedric Gibbons, đã vẽ lên giấy hình một hiệp sĩ đứng trên cuộn phim, tay cầm Thập tự kiếm đâm thẳng xuống. Hình vẽ sau đó được chuyển sang cho nhà điêu khắc George Stanley để tạo hình hoàn chỉnh cho chàng hiệp sĩ.

Vậy còn tên của anh ấy thì sao? Chuyện lại kể rằng trong một lần trao giải nọ, người thủ thư của Viện, Margaret Herrick, đã nhìn những bức tượng vàng và thốt lên “Ôi giống chú Oscar nhà tôi quá!”. Cái tên bỗng chốc được lan truyền, và đến khi được nhà báo Sidney Skolsky  sử dụng trong một bài viết về nữ diễn viên huyền thoại Katharine Hepburn thì nó chính thức trở thành nickname của giải thưởng. Một Hiệp sĩ mang tên Oscar đã ra đời như thế đấy.

Tiệc Oscar 1960
Tiệc Oscar 1960

Oscar có thân hình cực kì cân đối với cân nặng 8.5 pounds (gần 4kg) và chiều cao 13.5 inch (khoảng 34.3cm). Và đó có thực sự là “tượng vàng” không nhỉ? Thực tế bức tượng là hợp kim thiếc và mạ VÀNG THẬT 24 kara bên ngoài. Trong Chiến tranh thế giới II, do thiếu kim loại, tượng Oscar được làm bằng… thạch cao và quét sơn vàng. Nhưng bạn không cần tiếc thay cho những người xui xẻo nhận giải thời gian này, bởi ngay sau cuộc chiến, Viện Hàn lâm đã cực kì công bằng khi gọi họ trở lại để… đổi lấy tượng vàng.

Hiệp sĩ Oscar khá là… đẹp trai ^^
Hiệp sĩ Oscar khá là… đẹp trai ^^

Đã hơn 80 năm kể từ bữa tối định mệnh ấy. Lúc đó, ai mà biết được, Oscar sẽ bước sang tuổi 83 vào tháng Hai năm nay, và đang ngày càng chứng tỏ vai trò cực kì quan trọng của mình trong Nghệ thuật thứ Bảy.

2. Làm thế nào để “rinh” Oscar về?

Một chiếc phong bì lịch thiệp dán kín được đưa lên, kéo theo ánh mắt hàng vạn người. Khán phòng nín thở. Người trao giải cũng hồi hộp mở ra và bắt đầu “And the winner is…”. Ai đó đứng lên bật khóc vì sung sướng, trong khi ở dưới có người buông thõng cái cười nuối tiếc. Đằng sau những khoảnh khắc trao giải thiêng liêng như thế, việc chọn lựa người chiến thắng đã diễn ra thế nào?

Ai sẽ rinh được một “chú” mang về???
Ai sẽ rinh được một “chú” mang về???

Mỗi năm bắt đầu từ tháng Mười một, cuộc chạy đua cho Oscar đã bắt đầu, căng thẳng và thu hút truyền thông chẳng kém gì… bầu cử Tổng thống.

Thông báo đề cử Oscar
Thông báo đề cử Oscar

Vì với Oscar, mọi nỗ lực “đi cửa sau” đều không thể, nên các hãng sản xuất ganh đua bằng mọi chiêu thức để đảm bảo hội đồng chấm giải có thể xem được phim của họ: tổ chức chiếu phim đặc biệt cho thành viên của Viện, trao đặc quyền tham gia các hoạt động tài chính của bộ phim, gửi DVDs… Những hạng mục như Đạo diễn xuất sắc, Diễn viên xuất sắc… đều được chọn bởi chính các Đạo diễn hoặc diễn viên, bởi lẽ đồng nghiệp với nhau có thể thẩm định chính xác hơn nhiều. Riêng hạng mục Phim xuất sắc thì ai cũng được bỏ phiếu. Các phiếu kín được chuyển về nơi kiểm phiếu; cuối cùng, một bản danh sách đề cử sẽ được công bố vào đúng 5h30 phút sáng, tuần thứ ba của tháng Một tại Nhà hát Samuel Goldwyn, Beverly Hills. Quả là một quy trình kín bưng, khiến ai ai cũng phải tò mò, thấp thỏm chờ đợi những cái tên được xướng lên.

Tất cả hướng về Oscar
Tất cả hướng về Oscar

6

Giai đoạn cuối cùng, hơn 6000 thành viên của Viện tham gia bỏ phiếu kín; những phiếu này được gửi về PricewaterhouseCoopers – một công ty phụ trách kiểm toán cho Hollywood; kết quả cuối cùng sẽ được in ra, đặt trong phong bì niêm kín, cho tiếp vào hai cặp đen khóa chặt. Tuyệt đối không được mở ra cho đến khi trao giải. Vậy là việc các diễn viên ngơ ngác, mừng vui đến phát khóc vì bất ngờ lúc lên nhận giải là thật rồi!

Kathryn Bigelow khóc khi nhận giải Đạo diễn xuất sắc Oscar 82nd
Kathryn Bigelow khóc khi nhận giải Đạo diễn xuất sắc Oscar 82nd
Geoffrey Fletche xúc động nhận giải Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất
Geoffrey Fletche xúc động nhận giải Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất

3. Anh em song sinh của Oscar – Razzies

Oscar không phải là sự kiện điện ảnh đình đám duy nhất trong dịp này. Có ít nhất hai giải thưởng nữa đón đường cho Oscar và cũng ồn ào không kém: Quả cầu vàng (Golden Globe) và Mâm xôi vàng (Golden Raspberry). Giải thưởng của hiệp hội báo chí Hollywood có lượng theo dõi nhiều thứ ba tại Bắc Mỹ (chỉ sau OscarGrammy) và rất có uy tín, song đối với những người hài hước, Mâm xôi vàng mới là thú vị hơn cả.

Biểu tượng của Golden Raspberry (Mâm xôi vàng)
Biểu tượng của Golden Raspberry (Mâm xôi vàng)

Hiếm nơi nào trên thế giới này ngoài Hollywood, người ta lại có một giải thưởng để chọn ra những sản phẩm tệ nhất như thế. Càng gây chú ý ‎hơn khi mà mỗi năm, những nhân vật và tác phẩm được xướng tên đều tiếng tăm ầm ĩ. Madonna, Mariah Carey, Britney Spears, Spice Girls… cho đến các diễn viên thứ thiệt Cameron Diaz, Jessica Alba, Jack Black, Sandra Bullock…, thậm chí… Cựu Tổng thống George Bush đều từng  nếm mùi cay đắng của quả mâm xôi.

John Wilson – người sáng lập giải thưởng Mâm xôi vàng
John Wilson – người sáng lập giải thưởng Mâm xôi vàng
Danh sách đen của Razzies
Danh sách đen của Razzies
Britney Spears trong phim đề cử Mâm xôi vàng Crossroad
Britney Spears trong phim đề cử Mâm xôi vàng Crossroad
Madonna cũng từng nhận giải chứ kém gì???
Madonna cũng từng nhận giải chứ kém gì???
Sandra Bullock nhận tượng Mâm xôi vàng và Oscar chỉ trong hai ngày
Sandra Bullock nhận tượng Mâm xôi vàng và Oscar chỉ trong hai ngày
Sandra Bullock nhận tượng Mâm xôi vàng và Oscar chỉ trong hai ngày
Đến cựu Tổng thống Mỹ George Bush cũng…

Làm thế quái nào mà lại sinh ra giải thưởng kì quặc này nhỉ? Mâm xôi vàng (tên thân mật là Razzies) được sáng lập năm 1981 bởi một nhà báo tên John Wilson. Ngài Wilson có truyền thống tổ chức tiệc tại nhà cùng với một số người bạn vào đêm trao giải Oscar. Năm 1981, sau khi xem xong Oscar lần thứ 53, ông và bạn bè cùng tổ chức một “lễ trao giải” nhái lại Oscar, chỉ khác ở chỗ những người có mặt tại đó bỏ phiếu bầu ra bộ phim dở tệ nhất trong năm. Tất cả chỉ là một trò đùa, nhưng ngày hôm sau, sự kiện hài hước ấy được một số tờ báo địa phương đưa tin, trở thành lễ trao giải Mâm xôi vàng đầu tiên trong lịch sử. Và tại sao lại là Mâm xôi vàng chứ không phải là Quả chuối vàng? Cái tên này được lấy ra từ trò chơi “blowing a raspberry”, trong đó người chơi làm điệu bộ gần như là một cái bĩu môi; nó thể hiện sự mỉa mai dành cho những ứng viên nhận Mâm xôi vàng.

“Blowing a raspberry” là thế này đây!
“Blowing a raspberry” là thế này đây!

Hiện nay, Mâm xôi vàng được tổ chức đúng một ngày trước Oscar, vừa tăng tính châm biếm, lại thu hút sự chú ‎ý; chi phí đến nhận giải thưởng đều do “người chiến thắng” … tự túc. Tất nhiên chẳng diễn viên nào mong nhận quả mâm xôi mang về, nhưng họ cũng không mất lòng lắm, trái lại còn thấy thích thú. Phim vừa đoạt giải Oscar có khi chưa ai dám xem vì sợ không hiểu được; nhưng phim vừa đoạt giải Mâm xôi vàng thì ăn khách hẳn, vì ai cũng muốn biết phim dở tới cỡ nào. Như Halle Berry chẳng hạn, sẵn sàng ăn vận sang trọng đến nhận giải, và tỏ ra cực phấn khích khi lên nhận cúp Nữ diễn viên dở nhất trong Catwoman. “Đây cũng chính là những gì mà sự nghiệp của tôi cần. Tôi đã lên đỉnh cao, nay tôi lại xuống tận cùng” – vâng, cô ấy đã phát biểu như thế đấy, sau khi nhiệt tình cảm ơn đạo diễn, quay phim, sản xuất… đã tạo điều kiện để mình nhận giải này.

Halle Berry phấn khích nhận giải Mâm xôi vàng và màn phát biểu dài “từ con tim” của cô ấy
Halle Berry phấn khích nhận giải Mâm xôi vàng và màn phát biểu dài “từ con tim” của cô ấy

19 18

Như John Wilson người sáng lập từng nói “Mâm xôi vàng thực ra khiến người ta chú ‎y đến mình hơn”, giải thưởng này vừa là cách để hâm nóng tên tuổi (dù chẳng hay ho gì), vừa là lời nhắc nhở nhẹ nhàng cho các nghệ sĩ: hãy làm việc nghiêm túc hơn đi. Đề cử Razzies năm nay cũng xướng lên một loạt tên tuổi: bộ ba Twilight Robert-Kristen-Taylor, cha con nhà Cyrus, Jennifer Aniston, Ashton Kutcher, Jack Black… Họ có thể sẽ đến nhận giải, hoặc hậm hực ngồi nhà chờ báo ra sáng hôm sau. Nhưng chắc chắn tất cả đều phải cố gắng để năm sau rinh về nhà một tượng vàng Oscar, chứ không phải là quả mâm xôi vàng trị giá chưa đến 5000 đô la.

Hãy cố gắng rinh tượng vàng Oscar chứ không phải Mâm xôi vàng!
Hãy cố gắng rinh tượng vàng Oscar chứ không phải Mâm xôi vàng!

21

4. Oscar cũng từng sai lầm???

“Không có gì là hoàn hảo”, dù đó là giải thưởng Oscar danh giá. Được chọn ra bởi những thành viên Viện hàn lâm đầy uy tín, song không phải lúc nào kết quả của Oscar cũng thỏa mãn mọi người. Sau mỗi lần danh sách đề cử được đưa ra, thế nào cũng có những ‎y kiến phản bác lại; và sau khi giải thưởng được trao, sáng hôm sau sẽ có đầy những bài báo, blog… bày tỏ sự không đồng tình. Điển hình là trường hợp Oscar 1998 với cuộc chạy đua Phim xuất sắc nhất giữa “Shakespeare đang yêu” và “Giải cứu binh nhì Ryan”. Shakespeare đã chiến thắng, nhưng sau đó Viện Hàn lâm lại chịu không ít áp lực từ dư luận, cho rằng quyết định như vậy là một trong những sai lầm đáng tiếc nhất của viện. Với nhiều người, “Shakespeare đang yêu” rất xuất sắc và trau truốt, song không thể tạo ám ảnh và sự xúc động sâu sắc như ứng viên còn lại.

“Giải cứu binh nhì Ryan” được cho là xứng đáng tượng vàng hơn?
“Giải cứu binh nhì Ryan” được cho là xứng đáng tượng vàng hơn?

22

Ngay đề cử Oscar 83 năm nay cũng là gây nhiều bất ngờ và sự  phản đối, khi mà siêu phẩm Inception của đạo diễn tài năng Christopher Nolan, với rating 9/10, lại hoàn toàn mất hút trong hai hạng mục quan trọng Đạo diễn xuất sắc và Nam diễn viên chính xuất sắc dành cho Leonardo Di Caprio. Nhiều người còn bức xúc nói “Này Viện hàn lâm, nếu Christopher Nolan không được đề cử thì năm nay chẳng có Oscar!”.

25

26
Không có đề cử cho Christopher và Leo ư???

Dẫu sao, Nghệ thuật là một lĩnh vực khó phân định rạch ròi đúng sai, bởi lẽ sự cảm thụ của mỗi người đều khác. Cho dù sự lựa chọn của Viện Hàn lâm có hợp lòng dân hay không, thì việc Viện luôn cố gắng thoát ra khỏi thị hiếu số đông, giữ nguyên lập trường và tính nghệ thuật cho giải thưởng là một điều nên ghi nhận. Và cũng cứ phải công nhận đi, dù phim Oscar đôi khi khó hiểu, bị dân tình thờ ơ, hay bị coi là không xứng đáng đoạt giải… nhưng những bộ phim đã “qua tay” Oscar đều là những tác phẩm đỉnh cao, rất đáng thưởng thức.

Đã từ hơn 80 năm nay, Oscar trở thành dấu đỏ danh giá nhất, cho thấy một tác phẩm được công nhận đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật. Dù còn gây một số tranh cãi, song uy tín của Oscar chưa bao giờ giảm sút, và nó vẫn thu hút hàng vạn người đổ về kinh đô điện ảnh, biết bao nhiêu nhà báo trực chờ tại nhà hát Kodak trong đêm trao giải để chụp cho được một bức ảnh quý giá. Hiệp sĩ Oscar vì thế, luôn luôn là biểu tượng cao quý và đáng ước mơ  nhất cho tất cả những ai đam mê và đang cống hiến hết mình cho Nghệ thuật thứ Bảy.

Dạ Ly

Những ngôi sao không có quyền được lớn

Bài viết từ năm 2011.

Tiền bạc, sự hào nhoáng và danh tiếng ập đến khi còn rất trẻ – đó là những gì họ nhận được, để đổi lấy một sự nghiệp có thể đoán biết trước là chết yểu. Dường như có một điều lệ bất thành văn trong các hợp đồng giữa sao teen với Disney: KHÔNG ĐƯỢC PHÉP LỚN.

  1. Những thành công sau cái chớp mắt…

Thiên hạ vẫn đùa, rằng nếu Glee ra đời sớm 3 năm thì sẽ chẳng ai biết tới Zac Efron hay Vanessa Hudgens, bởi có thể đến High School Musical (HSM) cũng chẳng được ai chú ý. Glee vượt trội cả về nội dung, âm nhạc cũng như diễn xuất và tài năng của các diễn viên, lại thêm các vai cameo hút khách như Britney Spears, Charice, Gwyneth Paltrow… điều mà HSM không hề có.

Thế nhưng may thay cho Disney (và cả những ngôi sao của họ), High School Musical đã ra đời đúng cái thời điểm mà nó phải xuất hiện ở đó, để đón một lượng teen/tween lớn đang bơ vơ tìm thần tượng. Trong giai đoạn thoái trào của dòng phim teen cùng sự nghiệp lên xuống đáng thất vọng của những hotgirl một thời Hilary Duff, Lindsay Lohan, Amanda Bynes,… teen và tween bỗng lâm vào tình trạng “đói thần tượng”. Và thế là Disney có một mảnh đất màu mỡ để mà thu hoạch. High School Musical dù chất lượng chỉ ở tầm trung, nhưng như nắng hạn gặp mưa rào, nó thu được những thành công vượt ngoài sức tưởng tượng, kéo theo một loạt những Camp rock, Hannah Montana, Wizards in Waverly place,…và một dàn Miley Cyrus, Ashley Tisdale, Zac Efron, Jonas Brothers,… những sao Disney long lanh xinh xắn cho các cô bé cậu bé tuổi lên 10 noi theo. Câu hỏi được đặt ra là: sau đó, họ còn biết làm gì nữa?

Disney

  1. … Và những điệp vụ lớn lên bất khả thi!

High School Musical 3 kết thúc đã treo lơ lửng dấu hỏi trên đầu ba nhân vật chính. Zac Efron có vẻ thực sự tâm huyết với sự nghiệp diễn xuất khi từ chối tham gia tour diễn của High School Musical để tập trung cho vai diễn trong Hairspray, sau đó là tham gia những tác phẩm điện ảnh có chiều sâu hơn 17 again, Charlie St.Cloud. Thế nhưng, với 17 again thì Zac vẫn không thể may mắn thêm lần nữa, khi mà vai diễn (lại là) cậu hotboy tóc vàng chơi bóng rổ. Thất vọng với 17 again, người ta đặt cả hy vọng vào Charlie St.Cloud. Vốn được kì vọng là sự lột xác của Efron, Charlie St.Cloud lại nhận quá nhiều điều tiếng chê bai do nội dung và cách thể hiện nặng nề, Zac diễn “chưa tới”, thê thảm nhất là ratings dưới trung bình 4.6/10. Tất cả những gì mới người ta nhìn thấy ở cậu chỉ là mấy mẩu tin về chuyện chia tay bạn gái Thời HSM Vanessa Hudgens, rồi kiểu tóc mới, ảnh khoe body mới, đi chơi với Ashley Tisdale rồi thích Taylor Swift, nghi vấn hoa tai bên phải… tuyệt nhiên vắng bóng các dự án phim đủ tầm để nâng tên tuổi Efron lên một lần nữa. Cứ thế này thì đến báo chí lắm chuyện cũng chẳng còn biết khai thác cái gì từ cậu. Dường như chính Zac cũng bối rối chưa biết làm gì trong cái vòng luẩn quẩn ấy.

Zac Efron Zac in movie

Cục diện cũng chẳng khá hơn cho Vanessa. Beastly của Van dù dựa trên chuyện cổ tích đã quá nổi tiếng Người đẹp và Quái vật, cộng thêm anh chàng hotboy Alex Pettyfer trong I am Number Four, cũng không đủ để Beastly thoát khỏi nhận xét tiêu cực của giới phê bình. Diễn biến câu chuyện đều đều, bối cảnh trung học nhưng có phần khiên cưỡng và vô lý; mặc dù phim có Quái vật đấy, nhưng rốt cuộc chẳng có ai xấu cả – anh chàng Kyle khi bị biến đổi trông chẳng khác gì siêu nhân Xmen; kết thúc phim chóng vánh và không gợi chút xúc cảm nào. Chính vì thế, ratings 5.1/10 là tất cả mà Beastly có thể đạt được. Tệ hơn, Vanessa đã không thể hiện được tiến bộ đáng kể nào trong diễn xuất; thậm chí vai Lindy trong Beastly còn na ná Gabriella trong HSM: chăm học, hiền lành, mơ mộng; đến ngoại hình cũng không mấy khác biệt. Những vai diễn không chìều sâu, diện mạo xinh đẹp nhưng thiếu cá tính, âm nhạc yếu ớt chắc chắn không thể cạnh tranh trong thời điểm hiện tại. Vậy thì khán giả có thể mong chờ cái gì ở sự trưởng thành của Vanessa cơ chứ?

 Beastly Sucker Punch Beastly

  1. Tại sao họ không thể lớn?

Các ngôi sao Disney đã thành công tương đối dễ dàng, nhưng chỉ trong chốc lát; phần còn lại trên con đường sự nghiệp của hầu hết số đó đều dốc xuống. Nguyên nhân nằm ở chính thứ đã nâng họ lên: cánh tay quyền lực của Disney.

Disney có đối tượng fan chủ yếu từ 8-14 tuổi, cái tuổi mà chỉ có tình yêu gà bông của Hannah Montana mới đẹp, âm nhạc chỉ cần có thể nhún nhảy lắc lư hàng ngày đã là hay rồi… – trở thành ngôi sao của Disney đồng nghĩa với việc nghiễm nhiên là thần tượng của hàng ngàn cô bé cậu bé. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là các fan đang yêu mến những nhân vật trong phim không-có-tuổi. Hannah Montana vẫn chỉ là cô nhóc 17 tuổi, trong khi Miley Cyrus phải lớn lên chứ. Thế nên, các sao Disney muốn thay đổi chỉ có nước bỏ lại tất cả những thành quả đã có và coi như bắt đầu lại; hoặc họ sẽ chọn lựa như Brenda Song, mãi mãi ở lại với những bộ phim dễ thương của Disney, và sẽ dần dần chìm vào quên lãng. Có vấn đề gì khi một cô gái 25 tuổi như Ashley Tisdale trở nên sexy, hát những ca khúc “người lớn” và khiêu khích như trong album Guity Pleasure? Chằng sao cả, trừ khi cô ấy từng là gà nhà Disney, và là thần tượng của hàng vạn tweenie. Các fan cũ sẽ lớn lên và bỏ Ashley; Ashley sẽ phải lựa chọn thay đổi hoàn toàn để chinh phục những fan mới lớn tuổi hơn, hoặc mãi là Sharpay trẻ trung nhí nhảnh của các em nhỏ. Và thế là, sau rất nhiều nỗ lực ăn mặc, đóng phim, phát hành album mà không gây được tiếng vang nào đáng kể, Ashley Tisdale lại trở về làm Sharpay trong bộ phim mới nhất của mình Sharpay’s Fabulous Adventure và tiếp tục góp giọng trong vai cô chị Candace của series hoạt hình Fineas and Ferb. Đến cả dự án sitcom Under the construction trong tương lai thực chất cũng chỉ là bộ phim “diễn lại cuộc đời” của Ashley. Dường như Ashley không dám (mà cũng không thể) rời khỏi bàn tay che chở của Disney.

Jonas album solo cover

Trước Camp rock, Jonas Brothers đã ra album cùng hãng đĩa Sony và rồi lặn mất tăm; Sony hoàn toàn không chú ý tới nhóm nhạc này. Disney đã mang lại cho Jonas Brothers danh tiếng rất lớn, nhưng hãy chú ý nhé, chỉ là danh tiếng với khán giả nhỏ tuổi thôi. Và mấu chốt của mọi vấn đề với các ngôi sao Disney là ở đó: khi mà họ chỉ có thể nổi tiếng với những cô cậu nhóc 10 tuổi, có thể thay đổi ý thích bất cứ lúc nào, thì thành công mà họ có được chỉ là ảo. Tài năng chỉ có thể kiểm chứng khi họ hoạt động bên ngoài Disney. Ba năm qua đi kể từ khi nổi lên vù vù với Camp rock, thật lạ là Jonas Brothers vẫn sát cánh bên nhau trong… một series của Disneychannel, hơn thế lại là một series tẻ nhạt đóng lại chính bản thân mình. Tín hiệu đáng mừng duy nhất là cậu hai Joe Jonas đã chịu khởi động album solo Fast life, chuyển sang hình tượng nam tính và ra MV nóng bốc khói – thế nhưng còn rất lâu nữa Jonas mới lấy được lòng tin của những khán giả vốn “kì thị” nhà Disney.

Kết

Disney đã tạo một bệ phóng quá nhanh cho các ngôi sao trẻ, khi mà bản thân họ vẫn còn chưa đủ lông cánh để tự định hướng và bay tiếp. Miley Cyrus liều lĩnh rũ bỏ hoàn toàn hình tượng Hannah Montana, đánh mất sự ngây thơ để thu về một mớ scandal. Selena Gomez vẫn loay hoay với autotune, những vai diễn teen làng nhàng kiểu Monte Carlo và mối tình tốn giấy mực với cậu em Justin Bieber. Demi Lovato có vẻ khá hơn, khi single đánh dấu “trở lại cuộc đời” Skycrapers nhận được phản hồi khá tốt; nhưng đâu có gì đảm bảo cho cô gái giữa showbiz đầy cạnh tranh hiện giờ. Ba anh em nhà Jonas bắt đầu tách nhau ra để hoạt động độc lập; họ hiểu rằng, chừng nào còn hoạt động dưới cái tên Jonas Brothers, thì cái bóng Disney vẫn còn quá lớn để có thể vượt qua.

Skycrapers

Không có sự nổi tiếng nào mà không phải trả giá. Đã có quá nhiều bài học cho các ngôi sao trẻ thế hệ trước – một Lilo tài năng nhưng dường như đã chìm xuống đáy của thang danh tiếng, hay Hilary Duff chỉ còn xuất hiện trên các mẩu tin ngắn tính theo tháng. Đối với những ngôi sao Disney, xây dựng lâu đài danh tiếng còn dễ hơn nhiều việc giữ gìn và phát triển nó; đập tan nát thành quả đang có lại càng dễ dàng hơn. Hoặc là bạn nói được với cả thế giới “Tôi thực sự có tài”; hoặc sẽ mãi lưu danh với tên ngôi-sao-của-Disney mà thôi.

Dạ Ly

Đột nhập hậu trường Glee

Bài viết từ năm 2012.

“Glee không giống bất cứ cái gì từng xuất hiện trên tivi” – có show truyền hình nào mà diễn viên hát hay còn hơn nhiều “ngôi sao” thời thượng, những bản cover hot trên BXH hơn cả bản gốc; Glee khiến bạn cười và khiến bạn khóc, khiến bạn nghẹt thở vì những phút lãng mạn rất teen và rất Mĩ. Ryan Murphy và các cộng sự đã làm thế nào phù phép ra được một hit show như thế?

 Glee ss3

  1. Tìm kiếm ngôi sao từ những Losers

Biểu tượng của Glee là kí hiệu chữ L trên trán (Loser) – Glee là bộ phim về những kẻ có-truyền-thống-thất-bại đang trên con đường “từ zero thành hero”. Dàn cast của Glee, vì thế, toàn là những gương mặt mới toanh và chưa từng nhận một hợp đồng thu âm nào trước đó. Chỉ cần bạn trên18 tuổi nhưng có ngoại hình học sinh trung học Mĩ (dễ mà, người Việt thường trẻ trung hơn Tây đấy!), và có cả hai điều kiện trên, thì The Glee Project ss2 vẫn đang chờ bạn là một phần của Glee.

Warblers

Ngay từ đầu, Ryan Murphy đã chủ định không tìm kiếm ngôi sao hoặc một gương mặt quen thuộc. Thay vì open casting, Ryan đi khắp các nhà hát để tìm kiếm diễn viên có khả năng biểu diễn nhạc kịch – Lea Michele (vai Rachel Berry), Jenna Ushkowits (vai Tina Cohen Chang) và Matthew Morrison (thầy Will Schuester) được phát hiện theo cách này. Chris Colfer (Kurt Hummel) khiến Ryan ngạc nhiên vì giọng hát và cá tính đến nỗi ông viết luôn storyline dựa trên anh ấy (bản thân cuộc sống của Chris thời trung học khá giống trên Glee, luôn luôn bị bắt nạt và xô đẩy vào tủ đựng đồ). Bản thân Ryan cũng từng sống trong cảnh tương tự – ông cũng là gay; nhưng Ryan đứng lên chống lại tất cả những kẻ bắt nạt; ông còn nói đùa “Tôi thích viết về các cầu thủ trong trường học, vì tôi từng hẹn hò với họ”.

Brad and Gorilla Lea and Chris Lea wedding on set Naya and Nene On set - Britana On set - Brittany On set - girls On set - The Glee project winners

Vì sở thích và ý tưởng của vị cha đẻ thay đổi liên tục, việc tìm kiếm diễn viên cho Glee càng khó khăn. Vài ngày trước khi quay phim, đoàn làm phim mới tìm được Dianna Agron cho vai diễn quan trọng Quinn Fabray. Quá trình vào New Direction khó khăn nhất có lẽ là Heather Morris (Brittany S. Pierce). Được biên đạo Zach Woodlee phát hiện nhờ từng đi tour với Beyonce, Heather nhận lời dạy nhảy Single ladies cho các diễn viên Glee lúc bấy giờ và hy vọng Ryan Murphy sẽ chú ý đến mình. Thế nhưng vào thời điểm đó, Ryan lại muốn có một cheerleader da đen; cô dự định bỏ luôn nghề vũ công và chuyển đến New York thì nhận được thông báo khác “Cô sẽ là Brittany của Glee”. Thật may vì Ryan đã kịp thời sáng tạo ra Brittany – nhân vật của cô ấy đang được yêu thích bậc nhất trong cả show này.

Ouch

 

  1. 2. Nếu bạn là một phần của Glee

Để đóng một tập Glee, thường là bạn sẽ trải qua một (và nhiều) ngày như thế này:

Sau khi nghe và xem hàng ngàn clip gửi về từ khắp nơi trên thế giới để tìm ra tài năng mới là bạn, giám đốc casting Robert Ulrich sẽ dẫn bạn đến trước mặt hai nhà sản xuất/biên kịch là Ryan Murphy và Ian Brennan.

Cha đẻ của Glee - Ryan Murphy
Cha đẻ của Glee – Ryan Murphy

Hai người này nổi tiếng về khả năng viết kịch bản siêu tốc mà vẫn cực chất, các nhân vật sẽ được xây dựng trên chính cá tính của diễn viên chứ hầu như không có chuẩn mực từ trước. Thế nên, Ryan sẽ xoa xoa mái đầu trơn bóng của chú ấy và ân cần hỏi han cuộc sống của chính bạn. Cứ chia sẻ thoải mái, nhưng đừng có dại mà tâm sự điều gì thầm kín – bạn hãy noi gương Lea Michele ấy, mọi điều cô ấy lỡ kể với Ryan đều được đưa vào kịch bản, nên đến giờ Lea cũng chẳng dám ho he nói chuyện riêng với nhà sản xuất của mình nữa rồi.

Mỗi tập phim được đạo diễn bởi những người khác nhau, nhưng phần quan trọng và tốn thời gian nhất là âm nhạc. Bạn sẽ vào phòng thu làm việc riêng với chuyên gia thu Nikki Anders, và còn phải tập nhảy nữa. Khả năng nhảy của các thành viên New Direction rất cách biệt nhau, và vũ đạo dành cho những người không bao giờ nhảy thực ra khá đơn giản; tất cả là nhờ bàn tay biên đạo Zach Woodlee. Zach là một người rất có khả năng sư phạm và kiên nhẫn, bởi anh ấy còn phải hướng dẫn cho những nhân vật chẳng biết làm gì với chân tay của New Direction như Finn Hudson, hoặc Damian McGinty (vai Rory Flanagan) thì ngay buổi tập nhảy đầu tiên trong The Glee project, Zach đã thốt lên “Đừng, xin đừng nhảy”.

Nikki Anders
Nikki Anders
Ian Brennan
Ian Brennan
Biên đạo Zach Woodle
Biên đạo Zach Woodle

 

Trong phòng xướng âm quen thuộc của Glee, ngoài New Direction, còn có một nhân vật mà các Gleek rất để ý khi xem: người-chơi-piano-bí-ẩn. Chú ấy xuất hiện trong hầu hết các tập phim, luôn có mặt bất thình lình ở bất cứ nơi nào cần người đệm đàn, không bao giờ nói một câu thoại. Thật ra, người chơi piano ấy là nghệ sĩ/ chỉ đạo âm nhạc Brad Ellis, người phụ trách phần nhạc trong Glee và nhiều chương trình truyền hình/nhạc kịch khác. Ryan Murphy đã hướng dẫn Brad diễn xuất chỉ bằng một gợi ý duy nhất “Hãy coi như anh ghét tất cả lũ trẻ ấy”.

Brad Ellis by the piano
Brad ghét tất cả tụi trẻ trong Glee!!!

 

Việc quay phim và chuẩn bị cho Glee khẩn trương tới mức đôi khi Lea Michele chỉ có từ 30 phút đến một tiếng để tập luyện cho một bài hát trước khi vào ghi âm, còn vũ đạo có khi chỉ tập trong vài tiếng. Quá trình quay phim cũng từng xảy ra vài tai nạn nhỏ: Chris Colfer (vai Kurt Hummel) bị trặc chân khi đang tập nhảy cho season 3, hoặc Dianna Agron (vai Quinn Fabray) suýt nữa bị trúng những tia điện của các thiết bị bên trên nếu không có Lea cảnh báo. Trong tập 10 ss3 (Yes/No), thầy Schuester cầu hôn cô Emma; Jayma Mays (Emma) nói rằng trời lúc đó lạnh cóng, thế mà các diễn viên đang phải thực hiện màn trình diễn We found love dưới hồ nước.

On set - The proposal

On set - Choir room

Ngoài ra còn vô khối chuyện dở khóc dở cười trên phim trường. Cặp đôi Klaine có nụ hôn đầu tiên từ season 2, một nụ hôn theo mô tả kịch bản là “rất dài và lãng mạn”; tất nhiên cả hai đều lo lắng, đặc biệt là Darren Criss (Blaine) bởi anh không thực sự là gay. Vậy là hôn xong, Darren chạy ra ngoài, còn Chris vội gọi với theo: “Này Darren, sao thế, tôi hôn có giỏi không??? Có à? OK”. Trước đó, Darren đã từng hôn Lea trong tập Blame it on the alcohol, và trong một bài phỏng vấn anh ấy thú nhận, hôn Chris Colfer thích hơn hôn Rachel nhiều. Harry Shum Jr. (Mike Chang) cũng thú nhận anh thích hôn bạn diễn Jenna Ushkowitz và vì thế hai người thường xuyên dành thời gian để… tập hôn riêng với nhau. Cory Monteith (Finn Hudson) thì có trải nghiệm nhớ đời với cái tát trời giáng của Naya Rivera (vai Santana Lopez). Trong tập 6 ss3 Mash-off, Santana chỉ trích Finn kịch liệt; đạo diễn đã thì thầm với Naya trước đó “cứ tát thẳng tay vào!” trong khi Cory hoàn toàn không hay biết. Thế là anh chàng đã nhận một cái tát “cực đau và bất ngờ”,đúng như cảm xúc của nhân vật Finn lúc ấy.

  1. Nghía qua phim trường của Glee

Các trường quay của Glee đều nằm trong vùng Los Angles. Trường McKinley với phòng xướng âm quen thuộc, hành lang, nhà ăn và quán cà phê ưa thích của cặp đôi Klaine, tất cả đều được dựng trong trường quay Paramount Studios.

Glee - Hallway100glee_ep512-sc6_225

Học viện Dalton đẹp như mơ, thật ra là khu nhà Cravens tại Pasadena (LA)

1-22-10-9 SHOWCASE-BEFORE Dalton

Phần lớn các cảnh quay ngoại cảnh như sân bóng (nơi Sam hát Summer Nights Yes/No), hồ bơi thầy Schue cầu hôn quay ở một trường học tại LA tên là Venice

Football yard Venice High 2 Venice High

 

Những nơi New Direction từng biểu diễn thi bao gồm City Hall và Rosemont Theater

 City hall Rosemont Scandals

 

 

  1. Thời trang Glee-ism

Với khoảng 14 diễn viên thường xuyên xuất hiện, chuẩn bị phục trang cho Glee là một công việc cực kì quan trọng. Được các diễn viên khen hết lời vì tủ quần áo tuyệt vời là Lou Eyrich, người từng nhận giải Thiết kế phục trang tốt nhất cho những cống hiến của bà với Glee season 1. Cũng như Lou từng nói, trang phục là một phần mở rộng tính cách nhân vật Glee – mỗi nhân vật đều quá cá tính, và trang phục của họ vì thế không thể giống nhau được.

Khác với Gossip Girls nói về cuộc sống thượng lưu, Glee nói về cuộc sống của học sinh một trường công lập, nên trang phục lựa chọn phải vừa tầm với nhưng tên tuổi tầm trung H&M, Forever 21… Thời trang trong Glee ảnh hưởng vintage rất rõ rệt. Đầu tiên, cô giáo Emma Pillsbury thường xuyên xuất hiện trong những trang phục vô cùng điệu đà, nữ tính, chỉn chu và có thể dễ dàng tìm thấy ở những cửa hiệu phổ thông tại Mĩ, với mức giá đúng là ngang tầm lương giáo viên. Bí quyết chọn đồ cho Emma là những chi tiết như cổ có nơ to, bèo rún, quần áo cùng tông màu nhưng với các cấp độ khác nhau, phong cách layers và một chiếc cardigan là phần không thể thiếu trong cả bộ trang phục.

Emma fashion Emma Emma's shoes Emma's skirt Emma's sweater InspiredbyEmma

Rachel Berry luôn tự cho mình là ngôi sao, nhưng lại là một cô gái có gu ăn mặc vào hàng “thảm họa” (theo nhận xét của nhân vật Kurt); Rachel khoác lên người toàn item thời thượng nhưng lại mix với nhau một-cách-sai-lầm-chủ-ý khiến trong cô ấy rất buồn cười, mọt sách thay vì sành điệu, nhưng vẫn đáng yêu. Rachel đặc biệt thích áo khoác đan, váy khá dài và tất chân.

InspiredbyRachel Rachel look nerdy Rachel wear shoshana - tập 10 Yes.No Rachel wearing dress 2 Rachel wearing red dress RachelinNY Rachel's dress 2 Rachel's dress Shoshana dress - Rachel wear Without you

Quinn Fabray khi không mặc đồng phục Cheerios có một style công chúa cực kì nữ tính và xinh đẹp. Toàn bộ tủ áo của Quinn có lẽ chỉ có một thứ duy nhất và nhiều vô kể: váy, váy và váy. Kể cả ngoài đời, Dianna Agron cũng thường xuyên mặc váy. Tông màu của Quinn là các màu sáng (rất hay mặc màu vàng) và pastel.Quinn wearing white dress - s03e08 Hold onto sixteen

InspiredbyQuinn

Đi từ nhân vật phụ trở thành nhân vật được ưa thích, Brittany S. Pierce có gu ăn mặc không có gì để chê, cộng thêm gương mặt dễ thương và thân hình rất chuẩn nữa. Brittany thích những trang phục rộng rãi và thoải mái; ngoài ra vì yêu động vật, những phụ kiện của Britt rất có-liên-quan và cực yêu: ví dụ cái mũ lông gấu cô nàng đội trong Blame it on the alcohol đã nhanh chóng thành mốt sau khi tập phim phát sóng.

brittany hat Brittany inspired Brittany S. Pierce Brittany-S.-Pierce-Style

Một số chiếc váy nổi tiếng khác:

Rachel mặc khi hát tặng Finn Without you (David Guetta ft. Usher)

Shoshana dress - Rachel wear Without you

Váy mustard Quinn mặc trong Back or white, tập phim Michael

 

Mustard dress - Black or white perf - Michael Quinn wearing mustard tập 8 ss3 - Hold onto sixteen

 

Dạ Ly

Glee Tiếp tục hay dừng lại?

Bài viết đã đăng trên báo 2! Người trẻ Việt từ năm 2012.

Bất chấp những than phiền về kịch bản nhạt dần, sự thiên vị của bố Ryan với một số “con cưng” hay ratings đang đi xuống thảm khốc, tập chia tay các thành viên New Direction “tốt nghiệp” được kì vọng lấy đi không ít nước mắt của Gleeks, đặc biệt là trong đúng thời điểm các teen cuối cấp cũng rậm rịch chia tay trường lớp. Nhưng không. Ryan Murphy đã chẳng ngại ngần dội gáo nước lạnh vào khán giả bằng cách (một lần nữa) làm rối tung các mối quan hệ trong New Direction. Glee sẽ trở lại vào 13/9 này với season 4, và một câu hỏi vẫn còn lơ lửng trên đầu nhà sản xuất: thực sự có nên tiếp tục hay không?

Will

 

  1. Sẽ ra sao nếu có thêm season 4?

Sau season 3, một loạt nhân vật đinh của Glee như cặp Finchel, Kurt và Santana sẽ tốt nghiệp khỏi McKinley High; mà trước giờ Ryan Murphy luôn khẳng định “Không bao giờ làm phim Glee ở Đại học cả”, nên vấn đề ai đi, ai ở và những người ở lại làm thế nào để cứu vãn một tên tuổi đang đi xuống như Glee là điều ai nấy phải quan tâm. Để các Gleeks khỏi lo lắng, Ryan tuyên bố luôn “Tất cả sẽ trở lại trong season 4”. Tức là với các ngôi sao đã làm nên thành công của Glee bấy lâu nay, hóa ra Ryan vẫn không nỡ để họ đi hẳn, mà bằng một thủ thuật nào đó phải làm cho họ xuất hiện trong phần 4, không phải với tư cách khách mời, mà tương đối thường xuyên. Vậy nên Ryan mới nảy ra ý tưởng “show trong show”, tức là cùng một lúc Glee 4 sẽ có những cảnh của một New Direction mới tiếp tục tập hát với thầy Schue và cô Sue, xen kẽ cuộc sống Đại học của Finchel và Kurt ở New York. Không biết các biên kịch sẽ làm thế nào để nối hai nơi xa lắc này vào một tập phim, trong khi ngay trong season 3, kịch bản của Glee đã bị chê là rời rạc và thiếu kết dính.

Ryan Murph

Season 4 cũng được dự đoán là dành nhiều đất cho Tina, cô gái châu Á vốn ít được các biên kịch chú ý nhất trong suốt ba season trước. Thêm vào đó, tập đầu tiên gần như chắc chắn sẽ là… tuyển thành viên mới (thấy chưa, Glee càng lúc càng dễ đoán!). Để chuẩn bị diễn viên cho (các) phần tiếp theo của Glee, The Glee project (TGP) tiếp tục được sản xuất sang season 2. Hiếm có một bộ phim truyền hình nào mà quá trình tuyển diễn viên cũng có thể trở thành một show thực tế hấp dẫn như Glee, thế nên TGP được coi là con bài cứu cánh mà Ryan tạo ra cho tác phẩm của ông.

Con bài ưa thích cuối cùng mà Ryan tung ra: khách mời nổi tiếng. Có vẻ Ryan vẫn không chịu chấp nhận rằng các nhân vật khách mời thường chẳng giúp gì nhiều cho ratings của phim, nên trong season 4, hai cái tên Kate Hudson và Sarah Jessica Parker đã chính thức được xướng lên: Kate Hudson sẽ hướng dẫn vũ đạo cho Rachel và góp phần làm cuồi sống Đại học của cô khổ sở; trong khi đó, Jessica Parker sẽ là một nhân vật có ảnh hưởng tới Kurt, nhưng mối quan hệ thế nào thì chưa được tiết lộ. Britney Spears tiếp tục có một tập tribute trong season này, lý do là vì Brit sắp làm giám khảo cho X-Factor cũng chiếu trên kênh Fox => không có gì hay hơn trong cùng một tuần, khán giả vừa được xem Brit ra mắt vai trò giám khảo, vừa được xem Glee hát những ca khúc của cô. Về mặt âm nhạc, Ryan Murphy khẳng định luôn “Sẽ bám sát top40 Billboard nhất có thể”. Còn đâu lời hứa “Đem âm nhạc xưa đến với người trẻ” của ông ngày nào?

Nationals Go

  1. Glee season 4 liệu có thành công?

Nhưng các Gleeks có nhiều lý do để lo lắng về season 4. Từ sau phần 2 bị coi là xuống dốc nhiều so với phần 1, nhiều người đã bỏ Glee và cho rằng rốt cuộc bộ phim chỉ là “hiện tượng một đêm”. Giờ đây Glee đối mặt với áp lực vô cùng lớn phải thay đổi để cạnh tranh với những thế lực đang lên như các TV series How I met your mother, Revenge hay Touch.Tuy rằng phần 3 có nhiều tập được Gleeks cho là “hay nhất trong cả 3 phần”, dường như Glee không thể trở lại đỉnh cao như ngày nào. Với số lượng thành viên New Direction ngày càng nhiều, các biên kịch cứ phải loay hoay chia đất diễn cho đều và đẹp, thế mà vẫn bị dân tình kêu ca: cặp đôi Santana và Brittany vô cùng được fan yêu thích, nhưng quá ít cảnh tỉnh cảm; Blaine được ưu ái solo nhiều, trong khi Tina chưa từng được quan tâm đúng mức. Chính ý tưởng “ai cũng là người đặc biệt” mà Glee luôn muốn theo đuổi đã biến phim thành một show với quá nhiều nhân vật chính, mỗi nhân vật đều có hai mặt tốt-xấu lẫn lộn và phức tạp, thêm vào các mối quan hệ chồng chéo làm người xem mệt mỏi.

Nationals perf

Hơn nữa, cái kết cho phần 3 đã tương đối trọn vẹn: thầy Schuester hòa thuận với HLV Sue, trở thành Giáo viên của năm và chắc chắn sẽ cưới cô Emma; Glee đã thắng giải Quốc gia rồi trở thành những kẻ chiến thắng ở trường. Trong khi chủ đề chính của phim là sự vươn lên của những “kẻ thua cuộc”, có vẻ như phần 4 đã chẳng còn chuyện gì để nói (Không lẽ lại đổi tên thành Glee – ở trường và ở nhà?). Một bộ phim kéo dài qua ba phần với kết thúc có hậu và gặt hái nhiều thành công như thế, thì các Gleeks dù rất muốn xem tiếp Glee vẫn cho rằng dừng lại ở phần ba là hợp lý nhất rồi. Thế nên khán giả đã mong đợi một tập finale đầy cảm xúc với cái kết vừa đủ mở với các thành viên, chứ không phải là mở-toang-hoác như người ta đã làm. Bất chấp sự vô lý về mặt logic trong thực tế và cảm xúc nhân vật (Kurt trượt NYADA, Finchel chia tay….), tập finale khiên cưỡng tạo ra những thay đổi trong kịch bản chỉ với một mục đích duy nhất: câu kéo khán giả sang phần tiếp theo. Nhưng tiếc thay, với hầu hết mọi người, tập cuối season 3 thật đáng thất vọng.

Nếu tiếp tục phần 4, Glee còn vô cùng nhiều vấn đề phải giải quyết. Trong đợt tới, Glee sẽ bị dời ngày chiếu trên kênh Fox từ thứ Ba sang thứ Năm. Chủ tịch Fox Kevin Reily giải thích việc đổi thời gian là do Glee bây giờ đã “trưởng thành hơn”, không còn là show chỉ dành cho teen nữa. Thế nhưng ai cũng lờ mờ hiểu Glee đang bị “hất cẳng” dần ra khỏi sân chơi thứ Ba vốn dành cho các show hài đinh của Fox. Thay vào đó, vào tối thứ Năm Glee sẽ được chiếu ngay sau X-Factor để có thể tận dụng được lượng lớn khán giả vừa xem xong chương trình này tiếp tục ngồi lại xem phim. Glee vẫn còn may mắn chưa bị đẩy tới thứ Sáu – thời gian chiếu được cho là tử thần với mọi show truyền hình (bởi vì người ta thường ra ngoài chơi vào tối thứ Sáu).

Rumor has it.Someone like you mashup

Rõ ràng Fox đã không còn coi Glee là con át chủ bài như trước. Cả với Ryan Murphy, Glee cũng không phải mối bận tâm duy nhất. Ryan luôn dành nhiều thời gian và tâm huyết cho Glee, nhưng ông còn có trong tay American Horror Story – một đứa con đang lớn rất nhanh và cũng cần được chăm bẵm. Ngay cả việc tạo ra The Glee Project để tìm diễn viên cho Glee cũng là một dấu hiệu cho thấy sự cạn kiệt ý tưởng của một ekip từng rất giàu ý tưởng. Họ cần những nhân tố mới để làm nên một Glee mới, nhưng lại không đủ tin tưởng để bỏ đi hoàn toàn những nhân tố cũ. Thế là Glee bị mắc kẹt giữa bối cảnh phim lúc ở Lima lúc lại ở New York, giữa một dàn nhân vật ngày càng nhiều lên nhưng không thể khai thác cho sâu sắc, và giữa lựa chọn giới thiệu âm nhạc cũ và kinh điển đến giới trẻ như dự định ban đầu, hay là bám sát top40 Billboard để câu kéo khán giả.

  1. Thay máu trong season 4

Nhìn vào lượng view cho các màn biểu diễn của Glee trên Youtube hoặc vị trí cao trên Billboard trong năm qua, có thể thấy ít nhất về mặt âm nhạc, Glee chưa hề yếu thế. Đối với một bộ phận giới trẻ, Glee không đơn giản là một bộ phim nữa, mà còn là nguồn cảm hứng cho họ. Thế nên phim không thể chạy đều đều hết phần này sang phần khác chỉ để giải trí. Hoặc là dừng lại để giữ lại hình ảnh đẹp nhất, hoặc là tiếp tục phần tiếp theo, và cần nhiều ý tưởng đột phá để đưa một Glee đang trì trệ trở về sự tươi mới và đầy cảm hứng như thuở ban đầu.

Nationals - on set

Ryan Murphy đã và đang dùng tất cả những chiêu thức mà ông vốn hay dùng để khôi phục ratings, ví dụ như sử dụng khách mời nổi tiếng. Nhưng sự thực là khách mời không những chẳng làm tăng ratings, mà có khi còn giúp hạ nó xuống thê thảm, như Lindsay Lohan và Perez Hilton đã làm với tập 21 (Nationals). Xét cho cùng, cốt lõi của một bộ phim, cho dù là phim ca nhạc đi chăng nữa, nội dung vẫn là quan trọng nhất. Các nhà làm phim nên tập trung xây dựng cốt truyện cho hay đã, rồi hẵng lo đến chiêu trò hút khách. Đã đến lúc New Direction thật sự cần một hướng đi mới; bởi những nỗ lực rất lớn để thay đổi Glee trong season 3 có thể vẫn là chưa đủ so với mong đợi của những người yêu mến series này.

Dạ Ly

Ark Music Factory – những ước mơ bị rẻ rúng

Bài viết đã đăng trên báo 2! Người Trẻ Việt từ năm 2011, hoàn toàn không còn tính thời sự. Ark Music Factory cũng đã tan rã từ năm 2011.

Một video up lên Youtube có thể vĩnh viễn nằm im lìm, cho tới khi ai đó vô tình xem được và hứng chí chia sẻ lên trang cá nhân của họ. Cái may là, người chia sẻ là một người có tiếng, và video của bạn cũng sẽ nổi tiếng theo. Nhưng điểu tồi tệ hơn xảy ra, nếu người ta xem video của bạn vì lý do duy nhất: nó quá dở tệ. Friday của cô nàng Rebecca Black rơi trúng vào cái phần dở tệ ấy.

7

1.   Hiện tượng Youtube trong một đêm

Trước khi thành hiện tượng khoảng vài tháng, Friday đã được up lên Youtube nhưng chỉ đạt lượng view ít ỏi. Lúc ấy, Black vẫn có thể ung dung tới trường, khoe với bạn bè về video Friday của cô nàng, như một kiểu “tự sướng” các teen nhà mình vẫn làm. Không may (hay rất may?) cho cô, diễn viên hài Daniel Tosh’s Tosh.O rinh Friday về trang cá nhân với dòng description bắt mắt “Đây có phải bài hát dở tệ nhất không?”. Sau một đêm, lượng view tăng vọt từ 4000 lên 200,000, và sau bốn ngày đã thành 5 triệu. Rebecca Black xuất hiện trước toàn nước Mỹ trên Goodmorning America, và thế là bùm, cô nàng đã là một ngôi sao (dù hiểu theo nghĩa tiêu cực).

Làm thế nào mà một bài hát có thể nhạt nhẽo như thế, lại còn thu hút nhiều view và lượng dislike vượt? Rốt cuộc, Rebecca Black từ đâu mà ra? Sau khi  xem và ném đá chán chê Friday, dân tình mới nảy ra một loạt nghi vấn về người đứng sau Friday và một loạt MV na ná của các cô cậu teen đang tràn ngập Youtube. Và câu trả lời là: Ark Music Factory.

1

2.   Ark Music Factory là ai thế?

Ark Music Factory là một công ty thu âm tư nhân tại Los Angeles do Patrice Wilson sáng lập (chính là anh chàng rapper da đen trong Friday ý). Ark Music Factory đã tự quảng cáo mình là nơi sẵn sàng giúp đỡ những nghệ sĩ trẻ (trẻ nghĩa là từ 13 đến 17 tuổi!) tạo dựng sự nghiệp của mình. Đối tượng của AMF là những cô cậu ấm nhà giàu, có bố mẹ sẵn sàng chi cho công ty thu âm 2000-4000 đô la để viết cho một bài hit, dẫn đi thu âm với dàn kĩ thuật autotune tối tân (giọng chán cũng không lo), thực hiện một video clip, và cuối cùng là up lên Youtube. AMF nắm quyền phát hành, nhưng bản quyền hoàn toàn thuộc về những khách hàng “nghệ sĩ”.

2

Khác với các hãng thu khác, hợp đồng với AMF chỉ dừng lại ở chỗ ra lò sản phẩm. AMF không hứa hẹn gì về danh tiếng của những bản “hit” ấy; mà quả thực, có ai mà ngờ một ngày Friday của họ lại nổi tiếng đến thế. Tháng Một năm nay, Ark Music Factory đã nhận 4000 đô la từ mẹ Rebecca Black để biến ước mơ thành ca sĩ của cô bé thành hiện thực. Họ đưa Black 2 bài hát để chọn; MV được quay tại chính nhà cô, với diễn viên quần chúng cũng là bạn bè luôn. Nói tóm lại, trừ cái mác Ark Music Factory ra, Friday không khác gì một MV “cây nhà lá vườn”.

3.   Câu chuyện ước mơ hay trò đùa của showbiz Mỹ?

Tại sao các ông bố bà mẹ lại chịu chi tiền cho AMF? Bởi vì hãng đĩa này đánh trúng vào tâm lý các cô cậu mới lớn nhà giàu: thích nổi tiếng, (có lẽ) ham mê ca hát, và quan trọng nhất, chi ra vài ngàn đôla để gây dựng sự nghiệp có vẻ là cái giá “bèo” hơn nhiều so với việc phải trầy trật tập luyện, chạy vạy được hợp đồng thu âm với các hãng đĩa lớn. Có thành sao hay không, các “ca sĩ nhí” vẫn có chuyện để mà buôn với bạn bè, và thế nào cũng nổi tiếng ở trường. Như thế, họ chẳng thích quá còn gì?

Hiện nay những MV của Ark Music Factory được tìm nghe ngày càng nhiều, chủ yếu vì dân tình thấy ném đá Friday chưa đủ. Butterfly của Alana Lee đang dẫn đầu với hơn 8 triệu view, và may thay, số like nhiều hơn dislike. Trường hợp khác là Kaya với Can’t get you out of my mind; Kaya từng được AMF lăng xê nhiệt tình trước khi bị Rebecca vượt mặt. Với hơn 2 triệu view, thực ra Kaya là “gà” được ủng hộ nhất của AMF. Có người thậm chí cho rằng Kaya là một Ke$ha tiềm năng, và cô nàng nên kiếm một hợp đồng thu âm khác thay vì gắn tên mình với AMF, chẳng khác nào chôn vùi chính tương lai của mình. Các MV khác của AMF thì thực sự buồn cười theo đúng nghĩa đen. CJ Fam, “gà” nhỏ tuổi nhất của AMF đã khiến hơn 1 triệu người phải click play và bật cười, khi thấy một cô bé không hề nổi tiếng bỏ một đống tiền để làm MV về “nỗi khổ khi là người nổi tiếng” trong Ordinary Pop Star. Jenna Jose với My Jeans, Britt Rutter với Without your love,… Friday không hề đơn độc giữa một rừng MV sáo và sến như thế.3 4 5 6

 

Dù có bỉ bai thế nào, thì Rebecca Black cũng nổi tiếng thật rồi; đến Justin Bieber còn ậm ừ về ý tưởng song ca với cô nàng. Sự nổi tiếng, có thể xem là thành công của BlackArk Music Factory, lại khiến những người yêu nhạc lo lắng: showbiz Mỹ đang mắc căn bệnh gì vậy, khi mà những nghệ sĩ thực thụ bị lãng quên, còn những trò lố bịch trở nên cực hot và tất nhiên là hái ra tiền. Chắc chắn sau Rebecca, còn nhiều phụ huynh bỏ tiền cho con cái “hiện thực hóa” ước mơ thành ngôi sao. Ước mơ chẳng có gì là xấu, nhưng cái cách thực hiện của Ark Music Factory  sẽ chỉ biến nó thành trò đùa không hơn không kém.

 Dạ Ly

5/2011

Âm nhạc Giáng sinh cho những điều ước không đến được chỗ ông già Nôen

1. Mùa Âm nhạc chảy về tim

Giáng sinh với người phương Tây cũng như Tết với người Việt – ấy là cái khoảng thời gian thiêng liêng chờ đợi suốt một năm dài, để những người yêu thương nhau được quây quần lại bên nhau. Nó trở thành dịp đặc biệt cho mọi mảng của ngành giải trí hoạt động sôi nổi hẳn lên – từ thời trang, truyền hình cho đến điện ảnh và âm nhạc. Ồ, tất nhiên, Giáng sinh là lúc người ta cần đến Âm nhạc nhất; không chỉ là Christmas carol (bài hát mừng Giáng sinh truyền thống) thường miêu tả không khí ấm cúng và vui vẻ, âm nhạc mà các nghệ sĩ tạo ra lại dành cho phần trái tim còn lại, nơi sự cô đơn, nỗi buồn, hay bất cứ cảm xúc tiêu cực nào của con người vẫn thường ngự trị.

Thế nên năm nào cũng có sao ra album Giáng sinh, và khoảng tháng 11 là các sao đã rậm rịch quảng bá. Là album cho ngày lễ nhưng các nghệ sĩ không hề có ý định “làm cho vui, quà cho fan” bao giờ, trái lại họ cực kì chăm chút cho nó. Hãy nhìn Justin Bieber chuẩn bị cho Under the Mistletoe thậm chí còn hoành tráng hơn cả album bình thường, khi mà danh sách khách mời cộng tác là hàng dài những tên tuổi hot+gạo cội Boyz II Men, Mariah Carey, Usher, The Band Perry, Chris Brown, Sean Kingston và Taylor Swift. Âm nhạc trong các album Xmas, ngoài các ca khúc mới sáng tác trên nền beat hiện đại, thường bao gồm các bản cover những ca khúc Giáng sinh bất hủ từ các thập niên trước – như I’ll be home for Christmas được Josh Groban cover từ Bing Crosby (1943), hoặc The Christmas song (1944) từng được huyền thoại Nat King Cole thu tới 4 lần, qua tay cover của Bob Dylan, The Carpenters, Whitney Houston, Luther Vandross, N’SYNC, Christina Aguilera, Clay Aiken,…(còn rất dài!) rồi mới đến lượt Justin Bieber đưa vào album Under the Mistletoe. Rõ ràng Giáng sinh thì ai cũng có xu hướng tìm về những điều cổ điển và bất hủ.

groban

Tại sao các nghệ sĩ thích ra album Giáng sinh như vậy? Thứ nhất, khó có thể phủ nhận yếu tố “ăn khách” và doanh thu khi ra album đúng dịp này: Merry Christmas của Mariah Carey bán được hơn 7 triệu bản tính riêng ở Nhật và Mỹ, trong khi đó Josh Groban cũng mang về vài đĩa bạch kim cho album Noel (2007). Nghệ sĩ hoàn toàn có thể dùng tiền này để làm từ thiện, như Justin Bieber dự định làm với doanh thu của Under the Mistletoe. Lý do thứ hai, album Giáng sinh có thể là cái đệm êm ấm và an toàn cho nghệ sĩ – họ không phải đầu tư quá mức về mặt ý tưởng cho một album Xmas, lại có thể yên tâm tên tuổi mình vẫn nóng sau thời gian dài và qua kì nghỉ. Cuối cùng, thôi hãy bỏ hết những ý nghĩ tiêu cực về nền âm nhạc thiên về “thị trường” đi; chẳng phải mục đích cuối cùng của nghệ sĩ là tạo ra một Tác phẩm sao? Các nghệ sĩ ra album Xmas đơn giản vì cứ Giáng sinh đến, mọi người đều cần được nghe những giai điệu có thể biến mọi cảm xúc của họ trong ngày lễ trở nên đặc biệt. Giáng sinh là mùa mà âm nhạc chảy lại về tim; nên bạn sẽ không thể tìm thấy Giáng sinh nếu thiếu vắng tiếng nhạc vang lên từ nhà thờ, hoặc những ngôi nhà, cửa hiệu bên đường.

Merry Xmas - Mimi album coverXmas from the heart - ArchieThe Carpenters - Xmas album

2. Những bài hát Xmas làm tan băng

Giáng sinh không chỉ có niềm vui; bên cạnh cảnh gia đình sum họp, thế nào cũng phải có những trái tim đang buồn chán lại càng đơn độc vào kì nghỉ lễ – giống như cô bé bán diêm càng tội nghiệp hơn khi ngồi cạnh ngôi nhà của một gia đình hạnh phúc. Chính vì thế, những ca khúc Giáng sinh buồn mới là món quà tuyệt nhất – tất nhiên, chẳng có ông già Nôen nào ở đây – cho những người đang đứng trong góc tối của lễ Giáng sinh.

Please come home 4 Xmas - Eagles

Elvis Presley in an Xmas

Nỗi buồn thứ nhất, thường là tình yêu. Tình yêu là cái chủ đề muôn thuở đến nhàm của âm nhạc trên hành tinh này, nhưng rồi người ta vẫn cứ viết tiếp mãi những bản tình ca. Blue Christmas (Elvis Presley), Please come home for Christmas (Eagles) hay Christmas lights (Coldplay) là những bài hát đụng vào cái chủ đề nhàm nhưng chẳng bao giờ chán đó – về một đêm Nôen không còn người mình yêu bên cạnh. Nỗi buồn thứ hai là mơ ước trở về nhà. Thì đêm Giáng sinh là để gia đình ở bên nhau, nên những người không-thể-trở-về càng thêm buồn. I’ll be home for Christmas, từ lần đầu tiên được thu âm bởi Bing Crosby (khi Mỹ đang ở giữa chiến tranh thế giới thứ II) đã trở thành bài hát hay nhất để diễn tả cảm xúc xa nhà và người thân vào kì nghỉ. Năm 1965, bài hát lại được hai phi hành gia Frank Borman và James Lovell yêu cầu NASA phát cho họ nghe khi ở xa Trái Đất đúng dịp Giáng sinh. Khi Josh Groban đưa I’ll come home for Christmas vào album của anh năm 2007, nó đã ngay lập tức trở thành liều thuốc xoa dịu cho các gia đình có con đi lính ở Afghanistan và Iraq.

Frank Borman and James Lowell

Giáng sinh nào người ta cũng ước; nhưng chắc chắn có những điều ước chẳng bao giờ đến được chỗ ông già Nôen, và Giáng sinh vẫn cứ là những ngày lạnh giá (ở những nơi khai sinh ra nó).  May mắn thay, trong Giáng sinh vẫn còn âm nhạc vang lên; và những bài hát có thể làm tan băng giá, tất nhiên, tan chảy cả trái tim người nghe chúng.

Dạ Ly

Birdy – trả lại ngày nắng cho xứ sương mù

(Bài viết đã đăng trên báo 2! Người Trẻ Việt từ năm 2012)

Mỗi hình ảnh và thanh âm đều có thể làm người ta rơi vào cái mê cung đầy mê hoặc của tiếng piano và một giọng ca pha lê; ru mọi người lạc trong không gian âm nhạc của mình – có lẽ “Birdy” Jasmine van den Borgaerde đang làm quá tốt so với lứa tuổi 14 của mình.

  1. “Adele nhỏ”

Kể từ khi chiến thắng Open Mic UK 2008 bằng ca khúc tự sáng tác So be free, Birdy 12 tuổi vẫn lặng lẽ đến trường, không lưu diễn, không hào nhoáng, không paparazzi. Có lẽ báo chí mặc nhiên cho rằng showbiz còn đầy những ngôi sao teen bóng bảy biết làm dáng, đáng để đưa lên mặt báo, hơn là cô bé già trước tuổi khăng khăng trung thành với mái tóc nâu nhạt không kiểu cách, với piano và những bản indie pop chẳng hợp thời. Kí hợp đồng với Good Soldier Songs (hãng đĩa của chủ tịch Warner Bros Anh Quốc), Birdy phải liên tục di chuyển giữa Anh quốc lạnh lẽo và Los Angeles náo nhiệt, làm việc với những nhà sản xuất danh tiếng mà ban đầu chính cô bé cũng sợ sệt; 11/2011, debut album mang tên Birdy ra đời sau-ba-năm. Với thời gian chuẩn bị lâu như vậy, điều lạ là album chỉ có 1-2 bài mới, còn lại là các bản cover: Skinny Love (cover Bon Iver), People help the people (cover Cherry Ghost), Shelter (cover The xx), 1901 (cover Pheonix), Terrible Love (cover The National), White winter hymnal (cover Fleet Foxess). Không phải điều tốt khi một nghệ sĩ mới cover quá nhiều trong album đầu tay, nhưng cách Birdy thể hiện lại khiến những bài hát như sinh ra để được cô bé hát vậy.

Birdy 3

Cái tên Birdy chỉ bắt đầu lan tỏa khi lần lượt các single được ra mắt trên trang Youtube Official Birdy, đồng thời trở thành soundtrack trong series ăn khách The Vampire diaries. MV Skinny Love đạt đến 13 triệu view, trong khi đó trên radio, các single trên cũng lần lượt vào top chart tại Anh và châu Âu. Nếu như giọng hát “nữ thần” của Adele làm khán giả phải sững sờ cảm động thì chắc chắn Birdy cũng không gây ngạc nhiên không ít. Người ta sẽ ngạc nhiên vì khả năng piano hết sức điêu luyện, vì giọng hát trong vắt như pha lê dễ vỡ và đầy nội cảm, vì đôi mắt điềm tĩnh phảng phất buồn – thật khó tìm ở một cô bé tuổi còn teen; và ở chính âm nhạc của Birdy, nơi khái niệm “thời thượng” hoàn toàn vô nghĩa, thay vào đó chất indie phiêu du cổ điển. Tài năng và bất chấp xu hướng, Birdy luôn khơi gợi cảm giác đang nhìn thấy một Adele nhỏ; bản thân cô cũng thừa nhận Adele là thần tượng và nguồn cảm hứng của mình.

 Birdy 2

  1. Trả lại ngày nắng cho xứ sương mù

Showbiz UK vốn tự hào là nơi khai sinh nhiều xu hướng âm nhạc của thế giới, từ những biểu tượng tài năng như The Beatles, Elton John; các nhóm nhạc nổi tiếng U2, Coldplay; đến các trend có hơi hướng thương mại hơn boyband, girlband… Thế mà hiện tại, UKbiz lại đang ảm đạm hơn bao giờ hết. Không phải vì thiếu tài năng – thực tế thị trường UK thường được đánh giá là “thuần khiết” hơn US vì các nghệ sĩ nghiêm túc hơn trong âm nhạc, ít trò lố/ scandal, ít những ngôi sao chẳng-biết-có-tài-gì thích chơi trội kiểu Rebecca Black hay Kim Kardarshian. Nhưng cũng chính vì thế, showbiz UK lại kém sôi động và khép kín dần. Trong một thời gian dài, không có thêm một nghệ sĩ UK mới nào “gây bão” trên thế giới, cho tới khi xuất hiện “thế hệ nữ nghệ sĩ tài năng”. Susan Boyle, sau đó là Leona Lewis, Lily Allen, Jessie J, Duffy và tài năng nhất Amy Winehouse. Thế như Lily Allen và Amy Winehouse đều vướng phải cái bẫy nổi tiếng, những rắc rối cá nhân triền miên; Susan Boyle và Leona Lewis sau khi nổi lên thành hiện tượng từ hai cuộc thi tài năng và album đầu tay đều đang có biểu hiện chững lại. Vậy UKbiz còn lại chiến binh nào? Adele. Và có lẽ tương lai sẽ là Birdy.

Birdy 12

Cũng giống như Adele, Birdy tạo cho người ta cảm giác “cô ấy sẽ làm nên chuyện”. Không cần biết Billboard đang bị thống trị bởi Lady Gaga hay Katy Perry, Birdy tìm về những ca khúc xưa cũ của những nghệ sĩ gấp đôi tuổi cô và “tiêu hóa” dễ dàng. Lấy piano là chất liệu chính, thêm rất ít tiếng trống và các nhạc cụ khác, Birdy tạo ra âm nhạc cho những cái tai muốn tìm về sự sâu lắng và thanh thản; Cô tự tách mình ra khỏi mainstream pop vốn sôi động và phần nhiều được tạo nên bởi máy móc, tách khỏi những sao teen biết cách gây chú ý và chiều chuộng thị hiếu như Justin Bieber, Miley Cyrus, Selena Gomez. Chưa tròn 15 tuổi đã bắt tay vào album thứ hai với toàn bộ bài hát cộp mác Birdy; những gì Birdy đạt được ở thời điểm hiện tại vẫn còn rất ít so với những nghệ sĩ cô được so sánh, và nhất là so với tiềm năng của cô bé. Nhưng có sao, Birdy mới 14 tuổi. Chẳng có lý do gì lại không hy vọng tài năng ấy sẽ trưởng thành như Adele, và có ngày mang nắng trả về cho xứ sương mù

Birdy - Shelter MV

Fun facts

Nghệ danh: Birdy

Tên thật: Jasmine van den Borgaerde

Sinh ngày 15/5/1996 tại Anh

– Tập piano từ 5 tuổi và bắt đầu sáng tác năm lên 7

– Birdy theo học tại Priestlands School, một trường trung học tập trung vào nghệ thuật và âm nhạc; tuy được coi là một tài năng âm nhạc, cô bé thừa nhận mình không hề giỏi hơn các bạn ở trường, bởi các lý thuyết âm nhạc quá rắc rối lằng nhằng, mà Birdy thì chỉ thích tự do sáng tác thôi.

– Mọi người từng tiếp xúc nhận xét Birdy là một cô bé trầm tĩnh và rất khiêm tốn; có lẽ tính cách đó đã tạo nên một phong cách âm nhạc trong trẻo và sâu lắng, trưởng thành hơn nhiều so với độ tuổi của Birdy.

Dạ Ly